|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 46/2024/HSST Ngày 08/5/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Khánh Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Kim Đào và ông Nguyễn Cửu Hưng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Diện – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Thái Hà Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 44/2024/TLST- HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Ngọc T; Tên gọi khác: Mi nô; sinh ngày 13/12/1990, tại: Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố I, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Lê Ngọc C, sinh năm 1961, nghề nghiệp: không; con bà: Nguyễn Thị Diệu D, sinh năm 1968, nghề nghiệp: Buôn bán; cả hai hiện trú tại khu phố I, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con đầu; vợ, con: Chưa có.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Có một tiền án.
Ngày 15/9/2021, bị TAND TP Đông Hà xử phạt 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Ngày 13/4/2023, chấp hành xong án phạt tù, chưa xoá án tích.
Nhân thân:
- Ngày 12/10/2003, bị Công an phường E, TP Đ xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 05/11/2003, bị Công an phường E, TP Đ xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 27/12/2005, bị U, TP Đ áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 22/12/2010, bị TAND TP Đông Hà xử phạt 05 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, đã xóa án tích.
- Ngày 30/8/2012, bị TAND TP Đông Hà xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 22/7/2013, chấp hành xong án phạt tù, đã xóa án tích.
- Ngày 28/5/2015, bị TAND TP Đông Hà xử phạt 27 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 12/3/2017, chấp hành xong án phạt tù, đã xóa án tích.
Bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ từ ngày 18/01/2024 cho đến nay. Có mặt.
Bị hại: Bà Võ Thị H, sinh năm 1961, trú tại: Khu phố D, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Ngọc D1, sinh năm 1985; Khu phố D, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03 giờ ngày 16/01/2024, Lê Ngọc T đi bộ trên đoạn đường dưới chân cầu Đ (thuộc khu phố D, Phường E, thành phố Đ) để tìm nhà nào sơ hở đột nhập vào lấy trộm tài sản. Khi đi ngang qua nhà bà Võ Thị H (sinh năm 1961, trú tại khu phố D, phường E, thành phố Đ) thì thấy cửa chính của nhà không khoá, T đã lén lút đột nhập vào nhà, thấy có 01 chiếc xe đạp thể thao dựng ở phòng khách, T tiến đến dắt chiếc xe đưa ra ngoài đường và đạp đến tiệm cầm đồ “Cuội” của anh Hoàng Ngọc D1 (sinh năm 1985, trú tại khu phố D, phường Đ, thành phố Đ) bán cho anh D1 với giá 400.000 đồng. Số tiền có được T đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 131/KL-HĐĐGTS ngày 17/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ của UBND thành phố Đ kết luận: 01 xe đạp hiệu SAVA 380, màu xanh - đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong, trị giá tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 8.560.000 đồng.
Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số: 45/CT-VKS-ĐH ngày 28/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Lê Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Ngọc T từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu nên không xem xét.
Bị cáo Lê Ngọc T trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có cơ sở để kết luận:
Ngày 16/01/2024 tại khu phố D, Phường E, thành phố Đ, Lê Ngọc T đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe đạp thể thao, nhãn hiệu Sava 380, màu xanh - đen của chị Võ Thị H có trị giá 8.560.000 đồng. Sau khi lấy được tài sản, T đã đến tiệm cầm đồ C1 bán với số tiền 400.000 đồng rồi tiêu xài cá nhân hết. T là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhân thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác nhưng vì mục đích tiêu xài cá nhân đã có hành vi trộm cắp chiếm đoạt tài sản. Do đó, hành vi phạm tội trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, như nội dung cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, làm mất trật tự trị an, gây tâm lý hoang mang lo lắng của một bộ phận quần chúng nhân dân sống trên địa bàn. Bị cáo có 01 tiền án về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” và là đối tượng có nhân thân xấu, nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4]. Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tránh nhiệm hình sự cho bị cáo, thấy rằng:
Về tình tiết tăng nặng: Ngày 15/9/2021, bị cáo bị TAND thành phố Đông Hà xử phạt 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5]Đối với anh Hoàng Ngọc D1 là người đã mua lại chiếc xe đạp trên từ Lê Ngọc T nhưng không biết chiếc xe trên là tài sản do người khác phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý. Anh Dũng cũng không có yêu cầu về dân sự đối với bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên không xem xét.
[7]. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu 01 chiếc xe đạp
thể thao, màu xanh đen, hiệu SaVa 380, đã qua sử dụng. Sau khi nhận lại tài sản không ai có yêu cầu gì nên không xem xét.
[8]. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]. Tiếp tục ra Quyết định tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản".
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Ngọc T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/01/2024.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan của bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Khánh Phương |
Bản án số 46/2024/HSST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 46/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử
