|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2024/HS-ST Ngày 08 - 5 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sinh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Khánh và ông Phan Văn Minh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Hồ Văn H, sinh ngày 10/6/1984 tại Gia Lai. Nơi ĐKHKTT: Số nhà A P, tổ A, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Nơi ở hiện nay: Không rõ. Nghề nghiệp: Không rõ. Trình độ học vấn: 9/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Phật giáo. Con ông Hồ Văn H1 (đã chết), con bà Lê Thị Đ (đã chết). Vợ là Phạm Thị Ngọc B, sinh năm 1986 (đã ly hôn) và có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. Có mặt.
- * Người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn H: Ông Nguyễn Mạnh H2 – Luật sư của Văn phòng L, Đoàn Luật sư tỉnh G. Có mặt.
* Bị hại:
Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn E, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Phạm Thị Ngọc B, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ B, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Anh Hồ Quang V, sinh năm 1991; địa chỉ: Số nhà A P, tổ A, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bà Nguyễn Thị Kim T (SN:1974. Trú thôn E, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai) và Hồ Văn H cùng vợ là Phạm Thị Ngọc B (SN: 1986. Trú hẻm A P, thành phố P, tỉnh Gia Lai) có mối quan hệ quen biết với nhau. Năm 2014 Hồ Văn H bắt đầu có quan hệ vay mượn tiền của bà T để làm ăn. Do quen biết và tin tưởng nên các lần vay tiền bà Nguyễn Thị T đều không yêu cầu H viết giấy vay tiền, bà T chỉ viết vào cuốn sổ tay nhỏ màu vàng để theo dõi các lần vay tiền của H và giao cho H quản lý cuốn sổ tay này.
Đến ngày 10/10/2018 bà Nguyễn Thị Kim T và Hồ Văn H chốt lại số tiền nợ mà H còn nợ bà T là 1.600.000.000 đồng. Ngày 26/11/2018 Hồ Văn H tiếp tục mượn của bà T số tiền 600.000.000 đồng để mua 01 thửa đất tại hẻm D đường L, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vì khoản vay 600.000.000 đồng này là số tiền lớn, mà H vay không thế chấp tài sản gì nên bà T yêu cầu H phải cho chồng bà là ông Lương Vũ T1 (SN: 1972, trú tại thôn P, phường Y, thành phố P) đứng tên thửa đất mà H mua để đảm bảo khoản vay của bà T. Đến ngày 20/12/2018 (âm lịch), bà T yêu cầu H phải viết giấy nợ chốt lại khoản vay cũ là 1.600.000.000 đồng và khoản vay mới là 600.000.000 đồng với tổng cộng là 2.200.000.000 đồng và yêu cầu Phạm Thị Ngọc B là vợ của H cùng ký vào giấy mượn tiền để có trách nhiệm đối với khoản vay của H. H và B đồng ý ký vào giấy vay tiền này.
Ngày 19/11/2019 Hồ Văn H bán căn nhà tại thửa đất hẻm D đường L, thành phố P cho ông Võ Biên T2 (SN: 1991. Trú 393 L, thành phố P) với giá 940.000.000 đồng, H nhờ ông Lương Vũ T1 sang tên chuyển nhượng lại thửa đất này cho ông T2. Sau khi ông T2 trả tiền mua đất thì H đã trả 700.000.000 đồng cho bà T và bà T đã chốt lại số nợ với H còn lại là 1.500.000.000 đồng.
Sau khi chốt nợ thì Hồ Văn H không trả nợ cho bà Nguyễn Thị Kim T mà bỏ trốn khỏi địa phương, bà T không liên lạc được với H nên ngày 25/11/2019 đã làm đơn tố giác gửi đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh G.
Sau khi thụ lý tố giác, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã tiến hành các biện pháp xác minh, truy tìm đối với Hồ Văn H nhưng không có kết quả. Ngày 16/7/2023 Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Quyết định truy nã đối với Hồ Văn H về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật Hình sự. Ngày 11/8/2023 Hồ Văn H ra đầu thú. Hiện Hồ Văn H không còn tài sản gì.
Tại Kết luận giám định số 247/KLGĐ ngày 12/3/2020 Phòng kỹ thuật Công an tỉnh G kết luận: Giấy mượn tiền ngày 20/12/2018 (âm lịch) trên là do chữ viết, chữ ký của Hồ Văn H và Phạm Thị Ngọc B ký và viết ra.
- * Về vật chứng thu giữ: Không.
- * Về dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Kim T yêu cầu Hồ Văn H trả số tiền 1.500.000.000 đồng. Ngày 8/4/2024, bị cáo tác động em trai là Hồ Quang V nộp cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai 20.000.000 đồng để khắc phục hậu quả.
Cáo trạng số 62/CT-VKSGL-P1 ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Hồ Văn H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
2. Diễn biến tại phiên tòa:
- * Ý kiến của Kiểm sát viên: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
- Tuyên bố Hồ Văn H phạm tội tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”,
- Căn cứ khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự; Áp dụng Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; xử phạt bị cáo Hồ Văn H từ 12 đến 13 năm tù.
- - Về dân sự: Buộc bị cáo Hồ Văn H bồi thường số tiền đã chiếm đoạt cho bị hại 1.480.000.000đ.
- - Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- * Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát, bị cáo ra đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường một phần dân sự. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- * Bị cáo Hồ Văn H khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, nhất trí như lời bào chữa của Luật sư, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
- * Bị hại bà Nguyễn Thị Kim T vắng mặt tại phiên toà, tại lời khai trước đây có trong hồ sơ vụ án bà Nguyễn Thị Kim T yêu cầu bị cáo phải trả lại cho bà số tiền 1.500.000.000 đồng.
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị Ngọc B: Không có yêu cầu gì.
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hồ Quang V: Không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 20.000.000 đồng đã bồi thường thay.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về chấp hành pháp luật tố tụng hình sự: Quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội: Bị cáo khai nhận vì cần tiền để làm ăn và mua đất xây nhà nên trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2018 Hồ Văn H đã vay 2.200.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Kim T. Năm 2019, Hồ Văn H trả 700.000.000 đồng, còn nợ 1.500.000.000 đồng, sau đó bị cáo bỏ trốn đi khỏi địa phương, không trả nợ cho bà T.
Theo bản Kết luận giám định số 247/KLGĐ ngày 12/3/2020 Phòng kỹ thuật Công an tỉnh G kết luận: Giấy mượn tiền ngày 20/12/2018 (âm lịch) do bà Nguyễn Thị Kim T cung cấp là do chữ viết, chữ ký của Hồ Văn H ký và viết ra.
Lời khai của bị cáo phù hợp với tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự mà bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
[3] Về tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và hình phạt:
Đây là vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Bị cáo có nhân thân tốt.
- - Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- - Tình tiết giảm nhẹ:
Bị cáo đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường khắc phục một phần thiệt hại. Nên Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
[5] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị Kim T yêu cầu bị cáo trả số tiền chiếm đoạt 1.500.000.000đ. Bị cáo đã tác động gia đình nộp cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai 20.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số: 0000522 ngày 8/4/2024 để bồi thường cho bị hại. Buộc bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại số tiền còn lại 1.480.000.000 đồng.
[6] Về tình tiết khác có liên quan trong vụ án:
- - Đối với Phạm Thị Ngọc B: Quá trình H vay mượn tiền của bà T, B không tham gia và không biết, khi bà T yêu cầu B phải ký để đảm bảo khoản vay của H thì ký với tư cách là vợ H và sau khi ký giấy vay tiền thì B không bỏ trốn và sau sau đó ngày 07/10/2019 H và B ly hôn, không còn liên lạc với nhau. Do đó không xử lý đối với B về hành vi đồng phạm với H và và hành vi không tố giác tội phạm.
- - Đối với Lại Huệ V1: Quá trình bị cáo H bỏ trốn khỏi địa phương thì có đến bãi giữ xe của anh V1 để làm việc. Anh V1 không biết H đã phạm tội, khi đọc báo thấy H bị truy nã anh V1 nói H ra đầu thú. Do đó, không có căn cứ để xử lý đối với anh V1 về hành vi không tố giác tội phạm.
- [7] Về án phí: Bị cáo Hồ Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Hồ Văn H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
Áp dụng khoản 4 Điều 175; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hồ Văn H 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/8/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Hồ Văn H phải bồi thường cho bị hại bà Nguyễn Thị Kim T số tiền 1.480.000.000đ (Một tỷ bốn trăm tám mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án theo Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về trách nhiệm chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị hại bà Nguyễn Thị Kim T có quyền liên hệ với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai để nhận lại số tiền do bị cáo tác động gia đình khắc phục hậu quả là 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0000522 ngày 8/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.
3. Về án phí:
Căn cứ quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Hồ Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 56.400.000đ (Năm mươi sáu triệu bốn trăm nghìn đồng chẵn) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo yêu cầu Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm. Người nêu trên vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án.
5. Về thi hành án dân sự:
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Sinh |
Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 46/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Văn H phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt ts
