TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2024/DS-PT Ngày 06-6-2024 V/v tranh chấp kiện đòi tiền cho vay |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lưu Văn Tỉnh |
| Các Thẩm phán: | Bà Trần Thị Vân Thuý |
| Bà Bùi Thị Thúy Hà |
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng: Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 13/2024/TLPT- DS ngày 21 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp kiện đòi tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 26/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Tự K, sinh năm 1971; nơi cư trú: Số A Hồ X, phường M, quận H, thành phố Hải Phòng, có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thế H, sinh năm 1966; nơi cư trú: Số I Chợ Đ, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng, có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Nguyễn Quốc B, sinh năm 1981; nơi cư trú: Số A T, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
- + Văn phòng T; địa chỉ trụ sở: P, Tòa nhà E đường H, phường M, quận H, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
- + Bà Phạm Thị Y (sinh năm 1935, chết năm 2022).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Phạm Thị Y: Ông Nguyễn Thế H, sinh năm 1966; nơi cư trú: Số I Chợ Đ, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng, có mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Lê Tự K và bị đơn ông Nguyễn Thế H.
- Viện Kiểm sát kháng nghị: Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện nhận ngày 10 tháng 01 năm 2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Lê Tự K trình bày:
Ông Nguyễn Thế H và ông Nguyễn Quốc B có quan hệ vay nợ từ lâu và thế chấp bằng giấy tờ nhà của mẹ đẻ ông H (trích đo hiện trạng sử dụng đất căn nhà số I Chợ Đ, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng tên chủ sử dụng đất là bà Phạm Thị Y). Đến tháng 08/2021 ông B dẫn ông K đến gặp ông H, nhờ ông K cho ông H vay tiền lãi suất thấp để trả khoản vay lãi cao của ông H vay ông B trước đó.
Các bên bàn bạc như sau: Ông H nói đang vay của ông B 150 triệu, tài sản bảo đảm cho khoản vay là giấy tờ căn nhà của mẹ đẻ ông. Ông H đề nghị vay 300.000.000 đồng của ông K để trả nợ cho ông Nguyễn Quốc B và lấy thêm vốn mở xưởng làm ăn. Ông K đồng ý cho ông H vay 300.000.000 đồng và cầm giữ lại giấy tờ nhà mang tên bà Y từ ông B. Ông K yêu cầu ông H và bà Y phải ký Vi bằng ghi nhận việc vay tài sản theo hình thức đặt cọc 300 triệu đồng để mua căn nhà số I Chợ Đ với giá 800 triệu đồng. Lãi suất thỏa thuận là 3% tháng trong 6 tháng đầu tiên và các tháng tiếp theo là 2%/tháng. Ông H và bà Y đồng ý ký Vi bằng và ông H nói chỉ vay một thời gian, nếu không thu xếp trả được sẽ bán nhà trả tiền cho ông K.
Ngày 23/08/2021 tại Văn phòng T, các bên có mặt gồm có ông Nguyễn Thế H, bà Phạm Thị Y, ông Nguyễn Quốc B, ông Lê Tự K và ông Nguyễn An H1 - Thừa phát lại Văn phòng T. Ông K cùng ông H và bà Y ký Vi bằng số 416/2021/VB-TPLHP sau khi các bên đã cùng đọc và xem. Ông B cũng đưa toàn bộ Giấy tờ nhà của bà Y và giấy vay cho ông K. Sau khi xong các thủ tục Vi bằng, ông K hỏi ông H nhận chuyển khoản thế nào thì ông H bảo chuyển cho con trai của ông H. Ông B nghe thấy vậy nên đã đề nghị với ông K là ông K chuyển cho ông B. Ông K hỏi ông H có đồng ý với đề nghị của ông B không, thì ông H nói chuyển cho ông B cũng được rồi B sẽ chuyển lại số tiền thừa để lấy vốn làm ăn cho ông H sau. Ông H đồng ý trước tất cả mọi người nên ông K chuyển khoản số tiền 298.000.000 đồng cho B. Số tiền 2.000.000 triệu đồng còn thiếu là lệ phí Vi bằng của ông H phải trả cho Văn phòng Thừa Phát L. Việc ông K chuyển tiền qua tài khoản của ông B là theo ý chí và chấp thuận của ông H và bà Y trước sự chứng kiến của Thừa Phát L. Thừa phát lại chụp ảnh lại ông K đưa tiền cho ông H, bà Y. Sau đó ông K mới chuyển tiền cho ông B.
Sau khi nhận số tiền trên, việc ông B đối trừ tiền nợ cho ông H như thế nào ông K không biết. Ông H đã trả cho ông K 06 tháng tiền lãi là 54 triệu đồng, đến hết tháng 02/2022. Hình thức trả tiền lãi qua tài khoản hoặc tiền mặt, cụ thể vào thời gian nào thì ông K không nhớ. Từ tháng 3/2022 đến nay ông H không trả cho ông K bất cứ khoản tiền nào nữa nên ông K đã khởi kiện ông H.
Yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tự K như sau:
- Ông Lê Tự K yêu cầu ông Nguyễn Thế H phải trả cho ông Lê Tự K số tiền 300.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ tháng 3/2022 theo mức lãi suất theo quy định của nhà nước. Nếu ông H không trả tiền cho ông K thì ông H phải thực hiện theo đúng thỏa thuận tại vi bằng số 416/2023/VB-TPLHP ngày 23/8/2021 là ông K sẽ trả 500.000.000 đồng cho ông H và ông H giao nhà cho ông K, hai bên hoàn tất thủ tục mua bán nhà.
* Tại bản tự khai ngày 10 tháng 01 năm 2023, trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Thế H trình bày:
Ông H và ông Nguyễn Quốc B có quan hệ vay mượn cầm đồ từ năm 2014. Khoảng đầu năm 2019, ông H có cầm cố một số tài sản của ông H và gia đình gồm 02 xe máy, bằng đại học, sổ lương hưu, sổ tiền tuất liệt sỹ và một số máy móc để vay ông B số tiền 61.360.000 đồng.
Trong lúc dịch bệnh covid gặp nhiều khó khăn, ông H không trả lãi được cho ông B và có đem Giấy tờ nhà đất mang tên bà Phạm Thị Y để đảm bảo lãi của khoản vay 61.360.000 đồng. Ngày 23/12/2020, ông B tự tính số nợ cả gốc cả lãi đối với ông H là 150.000.000 đồng và ép ông cùng với gia đình ký vào giấy bán nhà. Ông B vẫn tính tiền lãi đối với số tiền 150.000.000 đồng. Ông H còn cầm cố thêm cả xe máy để trả đủ tiền lãi cho ông B. Ông H không nhớ đến khi nào thì ông không thể trả lãi cho ông B nữa. Trước ngày 23/8/2021, ông B dẫn ông K đến gặp ông H. Ông K nói với bà Y (mẹ ông H) là cho bà Y vay 300.000.000 đồng. Bà Y đồng ý vay và nói ông K phải đưa tiền mặt cho bà Y. Sáng ngày 23/8/2021, ông H đưa bà Y đến Văn phòng T. Nếu bà Y vay được tiền thì ông H xin tiền bà Y để trả cho ông B. Tại Văn phòng thừa phát lại có mặt ông K và ông B. Giấy tờ nhà do ông B cầm đến. Khi làm thủ tục để vay tiền, Văn phòng thừa phát lại cho một số tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng bọc vào bao thuốc lá chụp ảnh để làm chứng cứ bà Y đã nhận tiền. Sau đó, ông K và ông B không đưa cho bà Y bất cứ một đồng tiền nào. Khi làm văn bản Văn phòng thừa phát lại yêu cầu ông H và bà Y ký tên và điểm chỉ. Ông H và bà Y đã ký và điểm chỉ vào văn bản này. Nhưng khi xong xuôi, ông K không đưa tiền cho bà Y. Sau đó từ ngày 23/9/2021, ông K dùng chính Vi bằng đó yêu cầu ông H trả lãi. Vì không hiểu biết pháp luật, ông H đã trả lãi trong 06 tháng cho ông K, mỗi tháng 9 triệu đồng, tổng số tiền là 54 triệu đồng.
Quan điểm của ông H về yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tự K:
- Ông Nguyễn Thế H chỉ nợ ông Nguyễn Quốc B và ông H sẽ trả nợ cho ông B, ông H không có trách nhiệm trả tiền cho ông K.
- Ông H yêu cầu ông K trả lại số tiền 54.000.000 đồng lãi trong 06 tháng mà ông H đã đưa cho ông K.
- Ông H yêu cầu tuyên hủy văn bản Vi bằng của Văn phòng T do có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
- Ông H yêu cầu Tòa án chuyển đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật vì vụ án có dấu hiệu hình sự.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc B trình bày:
Năm 2021, ông Nguyễn Thế H nhiều lần vay tiền của ông Nguyễn Quốc B với tổng số tiền khoảng hơn 100.000.000 đồng, lãi suất cho vay hai bên thỏa thuận, cụ thể ông B không nhớ được do thời gian đã lâu. Sau đó ông H tiếp tục vay thêm tiền để lấy vốn làm ăn nhưng ông B không có khả năng nên đã nhờ ông Lê Tự K cho ông H vay số tiền là 300.000.000 đồng. Cụ thể, ngày 23/8/2021, tại Văn phòng T, ông B chứng kiến việc lập vi bằng giữa ông H, bà Y và ông K. Nội dung vi bằng như thế nào ông B không biết. Khi đó, ông K chuyển vào tài khoản của ông B 298.000.000 đồng bao gồm tiền ông H nợ ông B. Sau khi trừ nợ, số tiền còn lại ông B đã trả cho H bằng tiền mặt. Vì ông K chuyển tiền cho ông B bằng tài khỏan, nên ông B đã đưa lại cho ông K một số tiền làm tượng trưng cho Văn phòng thừa phát lại chụp ảnh lập vi bằng. Việc vay nợ giữa ông B và ông H đã kết thúc kể từ khi ông K cho ông H vay tiền trả cho ông B vào ngày 23/8/2021. Hiện ông B không còn giữ bất cứ giấy tờ gì liên quan đến việc vay nợ cũng như việc trả lại tiền cho ông H.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn phòng T - Ông Nguyễn An H1 trình bày:
Ngày 23/8/2021, ông Lê Tự K đã đến Văn phòng T để yêu cầu lập Vi bằng ghi nhận sự kiện, hành vi giao nhận tiền thỏa thuận và cam kết cùng những người tham gia theo phiếu yêu cầu lập vi bằng ngày 23/8/2021. Những người tham gia gồm có ông Lê Tự K, bà Phạm Thị Y và ông Nguyễn Thế H. Sự việc đã được ghi nhận đầy đủ tại Vi bằng số 416/2021/VB-TPLHP ngày 23/8/2021. Cụ thể ông K giao tiền cho bà Y và ông H số tiền 300.000.000 đồng. Sau đó các bên cùng ký văn bản giao nhận tiền đặt cọc và thỏa thuận cam kết.
Tại Vi bằng cũng đã nêu rõ ông K giao cho bà Y một số tiền. Sau khi kiểm đếm bà Y, ông H xác nhận đã nhận số tiền của ông K vừa giao là 300.000.000 đồng. Văn phòng thừa phát lại chỉ là bên chứng kiến ghi nhận trung thực khách quan sự kiện hành vi trong vi bằng. Bà Y và ông H nhận tiền và xác nhận số tiền ông K giao là 300.000.000 đồng. Văn phòng không tiến hành kiểm đếm số tiền này. Tại vi bằng và phiếu yêu cầu lập vi bằng thể hiện bên yêu cầu và bên tham gia đã hiểu rõ, tự chịu trách nhiệm về tính xác thực của các văn bản do các bên tự lập, tính hợp pháp của các hành vi, các giấy tờ có liên quan.
* Quan điểm của ông Nguyễn Thế H là người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà Phạm Thị Y trong quá trình giải quyết vụ án thống nhất với quan điểm của bị đơn.
Tại Bản án sơ thẩm số 25/2023/DS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã tuyên xử:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 121, 122, 124, 131, 365, 466, 357, 468 của Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ vào Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại.
Căn cứ vào khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Q.
* Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tự K:
Buộc ông Nguyễn Thế H phải trả cho ông Lê Tự K số tiền 21.397.000đ (hai mươi mốt triệu ba trăm chín mươi bảy nghìn đồng) sau khi đã khấu trừ số tiền chênh lệch.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Thế H chưa thanh toán đủ số tiền như đã nêu trên thì hàng tháng ông H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật dân sự.
- Vi bằng số 416/2023/VB-TPLHP ngày 23/8/2021 của Văn phòng T là vô hiệu. Buộc ông Lê Tự K phải trả lại cho ông Nguyễn Thế H (là người thừa kế duy nhất của bà Nguyễn Thị Y1) toàn bộ giấy tờ nhà đất tại địa chỉ số I Chợ Đ, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng do ông Lê Tự K đang giữ.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm,
Ngày 09/01/2024 ông Lê Tự K kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Theo đơn kháng cáo và các đơn kháng cáo bổ sung, ông K đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết:
- Đề nghị tuyên hủy Vi bằng thừa phát lại số 416/2021/VB-TPLHP do Văn phòng T ghi nhận việc giao nhận tiền không khách quan đẫn đến Vi bằng sai sự thực và yêu cầu Văn phòng T trả lại phí vi bằng 2.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại cho ông là các chi phí tố tụng.
- Đề nghị tuyên vô hiệu một phần “Văn bản giao nhận tiền và thỏa thuận cam kết” giữa ông K và ông H ở phần giao dịch nhận tiền đặt cọc mua nhà do Vi bằng sai. Và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu như sau: Buộc ông Nguyễn Quốc B trả lại ông K số tiền 298.000.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật trên số tiền 148.000.000 đồng từ tháng 08/2021 đến tháng 04/2024 và lãi chậm trả. Buộc ông Nguyễn Thế H phải trả ông K lãi suất trên số tiền 150.000.000 đồng từ tháng 8/2021 đến tháng 04/2024. Ông sẽ hoàn trả ông B toàn bộ giấy tờ ban đầu gồm hợp đồng của ông B và bà Y1, ông H và toàn bộ giấy tờ trích đo gốc nhà số I Chợ Đ.
Ngày 12/01/2024 bị đơn ông Nguyễn Thế H kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án buộc ông Lê Tự K phải trả cho ông Nguyễn Thế H số tiền 54.000.000 đồng.
Ngày 09/01/2024 Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân kháng nghị một phần bản án sơ thẩm. Kháng nghị cho rằng Bản án sơ thẩm xác định không có việc vay nợ giữa ông H và ông K là không có căn cứ, và việc Tòa án chấp nhận khoản lãi ông H đã trả cho ông K trong 06 tháng với mức lãi suất 3%/tháng là vi phạm khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và trừ khoản tiền trả lãi vượt quá quy định pháp luật vào nợ gốc.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung kháng nghị. Nguyên đơn, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không chấp hành nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn vượt quá yêu cầu khởi kiện nên không xem xét.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định quan hệ tranh chấp là kiện đòi tiền cho vay. Bị đơn cư trú tại quận L nên Tòa án nhân dân quận Lê Chân thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vụ án có kháng cáo và kháng nghị nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Tự K, bị đơn ông Nguyễn Thế H và kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đúng quy định pháp luật nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- Về việc vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Xét thấy Tòa đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa không có lí do. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Tự K và kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thế H:
Nguyên đơn ông Lê Tự K kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết
- Đề nghị tuyên hủy Vi bằng thừa phát lại số 416/2021/VB-TPLHP do Văn phòng T ghi nhận việc giao nhận tiền không khách quan đẫn đến Vi bằng sai sự thực và yêu cầu Văn phòng T trả lại phí vi bằng 2.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại cho ông là các chi phí tố tụng.
- Đề nghị tuyên vô hiệu một phần “Văn bản giao nhận tiền và thỏa thuận cam kết” giữa ông K và ông H ở phần giao dịch nhận tiền đặt cọc mua nhà do Vi bằng sai. Và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu như sau: Buộc ông Nguyễn Quốc B trả lại ông K số tiền 298.000.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật trên số tiền 148.000.000 đồng từ tháng 08/2021 đến tháng 04/2024 và lãi chậm trả. Buộc ông Nguyễn Thế H phải trả ông K lãi suất trên số tiền 150.000.000 đồng từ tháng 8/2021 đến tháng 04/2024. Ông sẽ hoàn trả ông B toàn bộ giấy tờ ban đầu gồm hợp đồng của ông B và bà Y1, ông H và toàn bộ giấy tờ trích đo gốc nhà số I Chợ Đ.
Ngày 12/01/2024 bị đơn ông Nguyễn Thế H kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm buộc ông Lê Tự K phải trả cho ông Nguyễn Thế H số tiền 54.000.000 đồng.
Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự :
Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị.
Theo yêu cầu khởi kiện ban đầu, ông Lê Tự K yêu cầu ông Nguyễn Thế H phải trả cho ông Lê Tự K số tiền 300.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ tháng 3/2022 theo mức lãi suất theo quy định của nhà nước. Nếu ông H không trả tiền cho ông K thì ông H phải thực hiện theo đúng thỏa thuận tại vi bằng số 416/2023/VB-TPLHP ngày 23/8/2021 là ông K sẽ trả 500.000.000 đồng cho ông H và ông H giao nhà cho ông K, hai bên hoàn tất thủ tục mua bán nhà.
Các yêu cầu kháng cáo của ông Lê Tự K về việc đề nghị tuyên hủy Vi bằng thừa phát lại số 416/2021/VB-TPLHP và yêu cầu tuyên vô hiệu một phần “Văn bản giao nhận tiền và thỏa thuận cam kết” giữa ông K và ông H và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, đều không nằm trong quyết định của bản án sơ thẩm. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét các yêu cầu kháng cáo này của ông Lê Tự K.
Đối với yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Thế H kháng cáo buộc nguyên đơn ông Lê Tự K phải trả lại ông số tiền 54.000.000 đồng: Hội đồng xét xử xét thấy ngày 27/10/2023 ông Nguyễn Thế H có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân quận Lê Chân tuyên giao dịch dân sự dân sự giữa ông Lê Tự K và bà Phạm Thị Y (mẹ của ông Nguyễn Thế H) vô hiệu do lừa dối, giả tạo và giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự buộc ông Lê Tự K phải trả lại cho ông toàn bộ giấy tờ nhà và 54.000.000 đồng. Xét thấy đây là yêu cầu phản tố của bị đơn, tuy nhiên thời điểm đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn là sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm không thụ lý và không giải quyết yêu cầu của ông Nguyễn Thế H là có căn cứ. Do Bản án sơ thẩm không giải quyết yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Thế H, bì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét yêu cầu kháng cáo này của ông Nguyễn Thế H.
- Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân:
Ngày 23/8/2021, tại Văn phòng T, giữa ông Lê Tự K, ông Nguyễn Thế H, bà Phạm Thị Y và đại diện Văn phòng T đã lập Vi bằng ghi nhận việc giao nhận tiền có nội dung “Thừa phát lại chứng kiến việc ông K giao cho bà Y và ông H số tiền 300 triệu đồng. Số tiền 300 triệu đồng trên là tiền đặt cọc mua nhà số I Chợ Đ, phường N, quận L, Hải Phòng (đất có giấy tờ trích đo của phường mang tên bà Phạm Thị Y), bà Y bàn giao lại giấy tờ nhà cho ông K, hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng nhà đất là 800 triệu đồng, số tiền còn lại 500 triệu đồng khi nào hoàn tất thủ tục chuyển nhượng thì ông K sẽ giao nốt tiền. Nếu trong thời hạn 24 tháng mà chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng thì ông H phải trả lại cho ông K 300 triệu đồng. Nếu ông H không trả tiền đặt cọc thì ông K sẽ giao nốt 500 triệu và bà Y, ông H phải làm thủ tục chuyển nhượng nhà đất cho ông K”. Việc lập vi bằng có ông Nguyễn Quốc B chứng kiến. Sau khi lập vi bằng, ông K đã chuyển vào tài khoản của ông B số tiền 298.000.000 đồng. Việc chuyển tiền có sao kê của ngân hàng.
Lời khai của ông Lê Tự K và ông Nguyễn Quốc B đều khẳng định số tiền 300.000.000 đồng là tiền ông Lê Tự K cho ông Nguyễn Thế H vay để ông H trả nợ cho ông B và do ông H đồng ý thì ông K mới chuyển tiền cho ông B. Tuy nhiên ông H không thừa nhận việc này. Ông H cho rằng số tiền 300.000.000 đồng là tiền ông K cho mẹ ông là bà Y vay, hai bên có làm vi bằng nhưng ông K không giao tiền cho bà Y mà lại chuyển tiền vào tài khoản của ông B. Ông H cũng chưa nhận được số tiền của ông B chuyển cho ông.
Theo lời khai của ông H, ông H thừa nhận có việc vay nợ ông B số tiền 61.360.000 đồng. Lời khai của ông B thể hiện, ông H có nợ ông B số tiền hơn 100.000.000 đồng, sau khi ông K chuyển tiền cho ông B thì việc vay nợ giữa ông H và ông B cũng chấm dứt. Như vậy, có sự mâu thuẫn trong lời khai về việc số tiền vay nợ giữa ông H và ông B, nhưng cấp sơ thẩm chưa thu thập tài liệu chứng cứ để làm rõ nội dung này để xác định việc chuyển quyền đòi nợ của ông B cho ông K, mà chỉ căn cứ vào lời khai của ông H để xác nhận số nợ 61.360.000 đồng buộc ông H phải trả cho ông K là chưa có cơ sở. Mặt khác, mặc dù ông H thừa nhận có việc vay nợ giữa ông H và ông B, nhưng ông H sẽ có trách nhiệm trả riêng cho ông B, ông H không vay nợ ông K, và cũng không đồng ý chuyển nợ sang cho ông K. Do vậy, Bản án sơ thẩm xác định có việc chuyển quyền đòi nợ từ ông B sang ông K theo Điều 365 Bộ luật dân sự là không có căn cứ.
Bên cạnh đó, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kể từ sau khi kí kết vi bằng thì ông H trả tiền lãi cho ông K theo thỏa thuận 3%/tháng đối với số tiền 300.000.000 đồng và đã trả được trong 06 tháng với số tiền là 54.000.000 đồng. Ông H khai việc trả 54.000.000 đồng cho ông K là do bị ép buộc và không hiểu biết pháp luật. Tuy nhiên cấp sơ thẩm chưa làm rõ việc ông H trả ông K số tiền này là trả thay cho bà Y, hay là trả nợ của ông H đối với số nợ khác. Lời khai của các bên mâu thuẫn về việc sau khi nhận 300.000.000 đồng của ông K thì ông B có chuyển tiền lại cho ông H hay không, việc giao tiền không có tài liệu, chứng cứ chứng minh. Viện kiểm sát căn cứ vào việc trả lãi của ông H cho ông K để xác định ông H nợ ông K tiền gốc 300.000.000 đồng là không đủ căn cứ. Đối với kháng nghị về việc tính lãi của Toà án sơ thẩm, Hội đồng xét xử thấy trong trường hợp này các bên thoả thuận vay có lãi suất nhưng không xác định rõ lãi suất nên Toà sơ thẩm căn cứ khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự để tính lãi suất là đúng pháp luật. Do vậy không có căn cứ chấp nhận các nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Từ phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ những chứng cứ, đặc biệt là về những mâu thuẫn trong lời khai các đương sự về nội dung khoản nợ của ông H và ông B, từ đó chưa đánh giá đầy đủ, khách quan toàn diện về nội dung vụ án. Vì vậy cần thiết phải hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và giao vụ án cho Tòa án nhân dân quận Lê Chân giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
- Về án phí: Do bản án sơ thẩm bị hủy nên người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308; khoản 1 Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự:
Hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 25/2023/DS-ST ngày 27/12/2023 của TAND quận Lê Chân, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
- Về án phí: Nguyên đơn ông Lê Tự K và bị đơn ông Nguyễn Thế H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại ông Lê Tự K 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm (Biên lai thu số 0005762, ngày 19/01/2024, tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng). Trả lại ông Nguyễn Thế H 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm (Biên lai thu số 0005764, ngày 24/01/2024, tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).
Đối với số tiền 7.500.000 đồng tạm ứng án phí sơ thẩm ông K đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng ( Biên lai thu số 0005488, ngày 27/3/2024), sẽ xem xét giải quyết khi Toà án nhân dân quận Lê Chân giải quyết lại vụ án theo trình tự sơ thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Văn Tỉnh |
Bản án số 46/2024/DS-PT ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp kiện đòi tiền cho vay
- Số bản án: 46/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp kiện đòi tiền cho vay
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủy án sơ thẩm
