Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HS-PT

Ngày: 05/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Tuấn Trọng và ông Phạm Trung Thực.

-Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 05/9/2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 65/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Thị T, Trương Thị T1, Đỗ Trọng T2, Đào Anh K, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 22/3/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Thị T, sinh năm 1971. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố L, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH T16; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Nguyễn Minh T3 (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T4; Có chồng: Chu Tuấn Đ và có: 02 con; Tiền sự, tiền án: Không.

Bị cáo Nguyễn Thị T bị tạm giữ từ ngày 04/5/2023 đến ngày 13/5/2023. Tạm giam từ ngày 13/5/2023 đến ngày 11/7/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam sang bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường N, thị xã M. (Bị cáo tại ngoại, vắng mặt tại phiên tòa).

  1. Trương Thị T1, sinh năm 1991. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố L, Phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Trương Mạnh H, sinh năm 1967 (đã chết); Họ và tên mẹ: Chu Thị T5, sinh năm 1970; Có chồng: Chu Tuấn T6 và có 03 con; Tiền sự, Tiền án: Không;

Bị cáo Trương Thị T1 bị tạm giữ từ ngày 04/5/2023 đến ngày 13/5/2023. Tạm giam từ ngày 13/5/2023 đến ngày 29/6/2023, được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam sang bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường N, thị xã M (Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa).

  1. Đỗ Trọng T2, sinh năm 1982. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố L, Phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Lỗ Trọng Đ1; Họ và tên mẹ: Đặng Thị G; Có vợ: Đặng Thị L và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Đỗ Trọng T2 bị tạm giữ từ ngày 04/5/2023 đến ngày 13/5/2023. Tạm giam từ ngày 13/5/2023 đến ngày 16/6/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam sang bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường N, thị xã M. (Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa).

  1. Đào Anh K, sinh năm 1998. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố L, Phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Đào Văn H1; Họ và tên mẹ: Khúc Thị L1; Có vợ: Nguyễn Trung A và có 01 con; Tiền sự, tiền án: Không;

Bị cáo Đào Anh K bị tạm giữ từ ngày 04/5/2023 đến ngày 13/05/2023. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường N, thị xã M. (Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Ngọ Quang L2, sinh năm 1981, Hoàng Quốc V, Sinh năm 1995; Chu Tuấn T7, sinh năm 1992; Khúc Xuân T8, sinh năm 1988; Nguyễn Hữu P, sinh năm 1976; Đỗ Văn L3, sinh năm 1982 không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị, Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hành vi cá độ bóng đá: Ngày 04/5/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã M nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc phường N có một số đối tượng đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức ghi số lô đề và cá độ bóng đá. Trong đó có Đào Anh K, sinh năm 1998, hộ khẩu thường trú tại: Tổ dân phố L, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.

Cùng ngày, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã M tiến hành triệu tập Đào Anh K đến làm việc. Quá trình điều tra xác định K nhận tài khoản cá độ bóng đá từ Trương Thị T1, sinh năm 1991, ở cùng thôn. Thỏa có được tài khoản bóng đá từ Nguyễn Thị T, sinh năm 1971, ở cùng thôn với T1.

A. Về hành vi Đánh bạc trái phép của các đối tượng cụ thể như sau:

Để thực hiện được hành vi Đánh bạc các đối tượng nhận tài khoản cá độ bóng đá trên trang “bong88.com” hoặc trang “Viva88.com” từ nhà cái đem về chia thành nhiều tài khoản cấp dưới rồi giao cho các đối tượng cấp dưới để tổ chức đánh bạc, kèm theo mỗi một tài khoản là một mật khẩu để truy cập, các đối tượng nhận tài khoản cá độ có thể đánh bạc hoặc trực tiếp giao cho người đánh bạc trái phép. Đây là trang Web nước ngoài, sử dụng giao diện tiếng anh (hoặc tiếng việt) chứa đựng một số tiền đô ảo (sau đây gọi tắt là Đ2) và nhà cái cũng như người nhận tài khoản thỏa thuận với nhau một Đ2 tương ứng với bao nhiêu tiền Việt Nam đồng (thông thường 1 Đô - hay còn gọi là 1 điểm = 100.000 đồng hoặc 1 Đô = 200.000 đồng, 1 Đô = 90.000 đồng). Các đối tượng sử dụng điện thoại di động có kết nối Wifi để đăng nhập tạo tài khoản cho cấp dưới hoặc tham gia đánh bạc. Khi đăng nhập vào tài khoản trang bóng các đối tượng đánh bạc sẽ chọn các kèo và cá cược các trận đấu bóng đá thế giới đang diễn ra (các kèo được hiển thị trên trang bóng). Sau mỗi trận bóng, số điểm thắng thua sẽ hiện trên các tài khoản cá nhân của mỗi người chơi. Mức điểm quy đổi có thể tùy theo thỏa thuận mà các đối tượng thống nhất quy ước trước đó. Khi cấp các tài khoản nhà cái thống nhất với các đối tượng chưa phải trả tiền ngay mà sẽ chốt số tiền thắng thua vào thứ hai hàng tuần, các đối tượng đánh bạc chỉ tham gia cá độ bóng đá mà không tham gia một trò chơi cá độ nào khác trên các tài khoản bóng đá đã được cấp. Hành vi phạm tội đánh bạc của các bị cáo cụ thể như sau:

  1. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị T:

Theo lời khai của T: Khoảng năm 2021 T quen biết với Trần Văn T9, sinh năm 1971, ở thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. T9 nói với T là nếu muốn làm thêm bóng đá (tức kéo trang cho mọi người cá độ bóng đá) thì T9 sẽ cho làm cùng. Để tăng thu được lợi nhuận T sẽ góp tiền thêm với nhà cái để đánh bạc với người chơi với tỷ lệ 30-70 (Tuyết góp 30%, T9 góp 70% hoặc cũng có những lúc tỷ lệ sẽ thay đổi theo thỏa thuận giữa T và T9)/ tiền thắng, thua (thực chất là hùn vốn, góp thêm tiền với nhà cái). Phương thức trao đổi, liên hệ được thông qua tài khoản Telegram tên “Tinhtien” của T9 và tài khoản của T là “Tuyết 123456789”. Việc cung cấp trang, quản trị và tính tiền thắng thua đều do T9 thực hiện, khi cung cấp tài khoản cá độ T9 sẽ cung cấp mật khẩu truy cập và hạn mức tài khoản; thứ 2 hàng tuần, T9 sẽ chốt tiền thắng thua của người chơi và chuyển cho T. T có nhiệm vụ chuyển tiếp các tài khoản cá độ bóng đá cho người chơi đánh bạc và thanh toán tiền thắng thua với người chơi. Các thư ký của T sau khi nhận được tài khoản cá độ bóng đá có thể đánh trực tiếp hoặc tiếp tục chia nhỏ các tài khoản đã được cấp để cho người khác đánh bạc. Các thư ký có thể được hưởng tiền thưởng là tiền com với tỷ lệ “Com x 4=1%” tiền thắng thua. Trong quá trình cá độ về nguyên tắc khi hết hạn mức của tài khoản đã cấp thì T mới cấp tiếp tài khoản mới, nhưng cũng có trường hợp các thư ký hoặc đối tượng đánh bạc không đánh tiếp thì yêu cầu T đóng tài khoản lại (không tiếp tục chơi nữa).

Căn cứ vào biên bản kiểm tra điện thoại, lời khai, sao kê tài khoản ngân hàng, lịch sử truy cập trang Web của các bị cáo Nguyễn Thị T; Trương Thị T1; Đào Anh K; Đỗ Trọng T2, sinh năm 1982 và Hoàng Quốc V, sinh năm 1995 đều ở cùng tổ dân phố với T; Lê Thị Thùy D, sinh năm 1986, ở tổ dân phố P, phường B, thị xã M; Ngọ Quang L2, sinh năm 1981, ở tổ dân phố V, phường B, thị xã M và Đỗ Văn L3, sinh năm 1982, hộ khẩu thường trú ở tổ B phường Y, quận C, thành phố Hà Nội (hiện đang ở số E phố C, thôn T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên), đã có đủ căn cứ xác định: Trong khoảng thời gian từ cuối năm 2022 đến tháng 5/2023, Nguyễn Thị T đã cung cấp 03 tài khoản cá độ bóng đá cho các đối tượng với tổng số hạn mức là 700 điểm tương ứng với 100.000.000₫ (Một trăm triệu đồng) cụ thể như sau:

  1. Trương Thị T1: Tài khoản cá độ bóng đá “TNDB0801” mật khẩu “Thoa11111” có hạn mức 300 điểm tương ứng với 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng).
  2. Đỗ Trọng T2: Tài khoản “TNDB0845555” mật khẩu “thang123” có hạn mức 300 điểm tương ứng với 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng).
  3. Lê Thị Thùy D: Tài khoản “TNDB0845111” mật khẩu “Abc123” với hạn mức 100 điểm tương ứng với 10.000.000₫ (Mười triệu đồng).

Ngoài ra, T còn khai cung cấp tài khoản cá độ bóng đá cho Chu Thị Hải Y, sinh năm 1988, ở cùng tổ dân phố với T: Tài khoản “TNDB0822” có hạn mức 200 điểm tương ứng với 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).

Sau khi cung cấp tài khoản cá độ bóng đá cho những đối tượng nêu trên, bị cáo T thống nhất với các đối tượng như sau:

  • Đối với bị cáo Trương Thị T1: Thỏa sẽ được hưởng 10% hoa hồng tiền thắng, thua của tài khoản Thỏa quản lý.
  • Đối với Đỗ Trọng T2, Lê Thị Thùy D và Chu Thị Hải Y sẽ được hưởng hoa hồng bằng 1% (tương ứng với 4 lần tiền com trên máy).

Quá trình điều tra đã làm rõ trong những tài khoản mà bị cáo T cấp cho các thư ký, hoặc người đánh bạc tổng số 10 trận cá độ bóng đá với số tiền là 107.407.000đ (Một trăm linh bảy triệu, bốn trăm linh bảy nghìn đồng) trong đó số tiền đánh bạc trái phép mỗi trận đều từ 5.000.000đ (Năm triệu đồng) trở lên. Cụ thể: 01 trận giữa K và V với số tiền 10.255.000đ (Mười triệu, hai trăm năm mươi lăm nghìn đồng) ngày 22/4/2023; 01 trận giữa T2 và L3 với số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) ngày 22/4/2023; 08 trận của L2 với số tiền 92.152.000đ (Chín mươi hai triệu, một trăm năm mươi hai nghìn đồng) trong các ngày 28, 29, 30/4/2023 và 03/5/2023. Do vậy bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tổ chức đánh bạc với số tiền 107.407.000đ (Một trăm linh bảy triệu, bốn trăm linh bảy nghìn đồng).

Đối với việc T khai T và T9 thỏa thuận tỷ lệ góp tiền để tổ chức đánh bạc là 30%-70%, tuy nhiên tại hồ sơ chưa có tài liệu chứng cứ nào xác định tỷ lệ góp vốn như T đã khai. Cơ quan điều tra chưa lấy được lời khai của T9 nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ sau.

Đối với các trận đấu khác, do quá trình điều tra không truy cập để mở được các tài khoản trên Website nên không xác định được chính xác số tiền đã đánh trên từng tài khoản, có bao nhiêu trận trên 5.000.000đ (Năm triệu đồng) và số tiền thu lời bất chính là bao nhiêu nên cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xem xét xử lý sau.

Đối với Trần Văn T9 và Chu Thị Hải Y, cơ quan điều tra đã triệu tập nhưng T9 và Y chưa đến làm việc. Qua xác minh chính quyền địa phương cung cấp hiện T9 và Y không có mặt tại địa phương, T9 và Y đi đâu địa phương không biết. Do vậy Cơ quan điều tra đã tách hành vi của T9 và Y để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Đối với Trần Quang T10 (người đứng tên tài khoản ngân hàng của T9 theo T trình bầy), quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M đã triệu tập Trung nhiều lần nhưng T10 không có mặt tại địa phương nên tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

  1. Hành vi của bị cáo Trương Thị T1, Đào Anh K và Hoàng Quốc V:

Từ khoảng cuối năm 2022, T cấp cho Thỏa tài khoản cá độ bóng đá “TNDB0801” với mật khẩu “Thoa11111”, hạn mức tiền cược là 300 điểm tương ứng với 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng) để đánh bạc trên trang "bong88.com”. Sau khi nhận tài khoản cá độ bóng đá trên, T1 tạo ra 05 tài khoản nhỏ hơn và lần lượt cấp cho Đào Anh K chơi đánh bạc với T để hưởng hoa hồng, cụ thể “TNDB0801777”;“TNDB0801666”;“TNDB0801333"; “TNDB0801222” đều có hạn mức 100 điểm tương ứng với 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng” (1 điểm tương ứng với 200.000đ) và tài khoản “TNDB0801555” có hạn mức 250 điểm tương ứng với 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), (thỏa thuận là tài khoản nào bị khóa thì mới cấp tiếp tài khoản khác). Khi cấp tài khoản K chưa phải trả tiền ngay cho T1 mà thanh toán tiền thắng thua vào thứ hai hàng tuần. K được hưởng tiền com với tỷ lệ “com x 4 =1%” tiền thắng thua trên tài khoản K đánh bạc. Thỏa thanh toán tiền thắng thua với K dựa trên số liệu T đã tính toán gửi cho T1, sau đó T1 trừ đi 1% cho K, như vậy Thỏa được hưởng 9% hoa hồng trên tổng số tiền thắng thua của K. T1 dùng điện thoại và tài khoản Telegram của Chu Tuấn T6, sinh năm 1989 (chồng T1) để nhắn tin cấp tài khoản và giao dịch với K.

Căn cứ vào tin nhắn còn lưu giữ trên điện thoại, sao kê tài khoản ngân hàng và lời khai của T1, K và V, quá trình điều tra làm rõ: Ngày 22/4/2023, Hoàng Quốc V gọi điện cho K tham gia cá độ trận bóng đá giải ngoại hạng Anh giữa đội Nottingham F với đội L4. V chọn đội Nottingham Forest với số tiền cược là 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng) trong kèo Liverpool chấp N 1 ¼ quả và tỷ lệ cược là cược 100 ăn 93. Nghĩa là nếu V sẽ bỏ ra số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng), nếu Đội Nottingham Forest thắng thì sẽ được 930.000₫ (Chín trăm ba mươi nghìn đồng), nếu đội Nottingham Forest thua 1 quả thì sẽ được 1 nửa tiền là 465.000₫ (Bốn trăm sáu mươi lăm nghìn đồng), nếu đội Nottingham F thua 2 quả thì sẽ mất số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) gốc ban đầu. K đồng ý và

nhắn cho V bằng số điện thoại 0866.420.xxx của K để xác nhận kèo với V. Sau đó V chuyển khoản cho K 7.200.000đ (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng) từ số tài khoản 46610001343855 của V mở tại ngân hàng B1 đến số tài khoản 19035849700013 mở tại ngân hàng T17 mang tên Khúc Xuân T11, trong đó 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng) là tiền cá độ bóng đá, 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) là tiền Việt trả nợ K trước đó. K sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Z Fold4 màu vàng của mình kết nối mạng internet đăng nhập vào tài khoản “TNDB0801555” tại trang “bong88.com” và nhập kèo cá độ nói trên. Kết thúc trận đấu bóng đá, V thắng số tiền 3.255.000đ (Ba triệu, hai trăm năm mươi lăm nghìn đồng) làm tròn là 3.250.000₫ (Ba triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng). K đã chuyển tổng số tiền gốc và tiền V thắng là 10.250.000đ (Mười triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng) từ tài khoản Khúc Xuân T11 đến tài khoản của V.

Như vậy K và V phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức cá độ bóng đá với số tiền là 10.255.000₫ (Mười triệu, hai trăm năm mươi lăm nghìn đồng). Thỏa phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tổ chức đánh bạc đối với hành vi cung cấp tài khoản để K và V cá độ bóng đá với số tiền 10.255.000đ (Mười triệu, hai trăm năm mươi lăm nghìn đồng). Ở trận này, T1 được hưởng 9% tiền hoa hồng trên số tiền thắng bạc tương đương 293.000 đồng, K được 1% tiền com trên số tiền thắng bạc tương đương 32.000đ (Ba mươi hai nghìn đồng).

Ngày 13/4/2023 K được T1 trả 30.400.000₫ (Ba mươi triệu, bốn trăm nghìn đồng) tiền thắng cá độ bóng đá, sau đó do cần tiền trong tài khoản ngân hàng nên K nhờ T1 đổi tiền mặt lấy tiền trong tài khoản ngân hàng. Do vậy Thỏa chuyển khoản từ tài khoản 100839876868 mở tại ngân hàng V1 mang tên Trương Thị T1 số tiền 30.400.000đ (Ba mươi triệu, bốn trăm nghìn đồng) đến số tài khoản 19031074115024 T17 mang tên Đào Anh K. Ngày 04/5/2023 K được T1 trả 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) tiền thắng cá độ bóng đá, sau đó K đã ra ngân hàng nhờ một người phụ nữ không quen biết đổi tiền mặt để lấy tiền trong tài khoản và nạp vào tài khoản K1 để chơi game.

Đối với những trang bóng mà T1 cấp cho K để đánh bạc, khoản tiền 80.400.000₫ (T12 mươi triệu, bốn trăm nghìn đồng) mà K được T1 thanh toán như đã nêu ở trên cũng như việc K khai nạp 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) vào tài khoản Kubet để chơi game. Do không mở được các trang bóng, không còn lưu giữ tài liệu chứng minh và không làm rõ được khoản tiền thanh toán trên trong đó có bao nhiêu trận trên 5.000.000đ (Năm triệu đồng) và tổng số tiền đánh bạc của từng trang bóng là bao nhiêu, không xác định được số tiền thu lời bất chính nên tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Đối với Chu Tuấn T6, cơ quan điều tra đã lấy lời khai của T6 nhưng T6 xác định không cung cấp tài khoản cá độ bóng đá cho K, T6 không biết vì sao trong máy điện thoại của T6 có những tin nhắn liên quan cá độ bóng đá của K. Điện thoại của T6 thì vợ T6 là T1 biết mật khẩu và sử dụng. Quá trình xác minh chưa

đủ căn cứ xác định T6 có liên quan đến hành vi Tổ chức đánh bạc và đánh bạc không nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ sau.

  1. Hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Trọng T2 và Đỗ Văn L3:

Khoảng tháng 4 năm 2023, T cấp cho T2 tài khoản cá độ bóng đá “TNDB0845555” với mật khẩu “thang123” với hạn mức 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) để đánh bạc. Sau khi nhận trang cá độ bóng đá từ T thì T2 trực tiếp tham gia đánh bạc và cho người chơi khác đánh bạc tại tài khoản của T2.

Căn cứ vào lời khai, tin nhắn, hình ảnh tin nhắn thu giữ được trên điện thoại của T, T2 và L3, biên bản T2 nhận dạng ra L3, đã đủ căn cứ xác định: Ngày 22/4/2023 Đỗ Văn L3 (tên gọi khác là T7) là bạn xã hội của T2, liên hệ với T2 cho cá độ bóng đá trận Crystal P1 gặp E với số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng). T2 đồng ý. Kết thúc trận đấu hai đội hòa nhau tỷ số 0 - 0 nên L3 thua nửa số tiền cược là 2.500.000đ (Hai triệu, năm trăm nghìn đồng), đã thanh toán tiền mặt cho T2. T2 được hưởng tiền com là 25.000đ (Hai mươi lăm nghìn đồng).

Đến đầu tháng 5 năm 2023 tài khoản “TNDB0845555” của T2 thua số tiền hơn 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) nhưng T2 không nhớ đánh bao nhiêu trận và số tiền từng trận nên T2 đã bảo T khóa tài khoản và thanh toán tiền thua cá độ bóng đá cho T. Ngoài ra T2 trình bầy trước đó cuối năm 2022, T còn giao cho T2 trang cá độ bóng đá (T2 không nhớ tài khoản, mật khẩu) với số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng) để T2 cá độ bóng đá nhưng đã thua hết tiền nên đã khóa tài khoản trên. T2 không nhớ đánh bao nhiêu trận, bao nhiêu tiền.

Như vậy T2 và L3 phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) nêu trên.

Ngoài số tiền cá độ đã được làm rõ trên do tài khoản cá độ đã bị đóng và không còn lưu giữ, nên không thể làm rõ được tổng số tiền cá độ, tiền thắng, tiền thua và tiền thu lợi bất chính của T2, nên tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

B. Hành vi mua bán số lô, đề:

Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2023 đến tháng 5/2023, Lê Thị Thùy D có hành vi bán các số lô đề cho khách sau đó chuyển cho Nguyễn Thị T để hưởng tiền hoa hồng; Đỗ Trọng T2 và Đào Anh K có hành vi bán các số lô đề cho khách để hưởng lợi.

Cách thức đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức mua, bán số lô đề như sau: Người chơi ghi (Mua) các số lô, lô xiên, đề, ba càng .... của người bán với giá lô, đề theo thỏa thuận trước. Kết quả thắng, thua căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng cùng ngày. Thông thường 01 điểm lô có giá 22.000đ (Hai mươi hai nghìn đồng), nếu số lô đã mua trùng với 02 số cuối của bất kỳ một giải thưởng nào (từ giải đặc biệt tới giải bẩy của kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thường cùng ngày) thì người mua sẽ thắng và được người bán trả tiền theo tỷ lệ 01 điểm lô sẽ được 80.000đ (Tám mươi nghìn đồng). Trường hợp số lô đã mua trùng với 02 số cuối của nhiều giải thì người mua được hưởng tương ứng với số giải đã trúng. Nếu số lô đã mua không trùng với 02 số cuối của

bất kỳ giải nào thì người mua sẽ thua và mất toàn bộ số tiền bỏ ra mua số lô cho người bán. Nếu số đề đã mua trùng với hai số cuối giải đặc biệt của kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng cùng ngày thì người mua sẽ thắng và được người bán trả cho số tiền gấp 70 (Bảy mươi) lần số tiền đã mua. Ngược lại nếu số đề đã mua không trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt thì người mua sẽ thua và mất toàn bộ số tiền đã mua. Nếu số đề ba càng đã mua trùng với ba số cuối của giải đặc biệt thì người mua sẽ thắng và được người bán trả cho số tiền gấp 400 (Bốn trăm) lần số tiền đã mua số đề ba càng.... ngoài ra còn có nhiều hình thức cá độ khác như lô xiên 2, lô xiên 3...

Để thu hút được người chơi mua số lô, đề thì chủ lô đề hoặc thư ký ghi lô, đề sẽ giảm tiền mua số lô, đề cho người chơi. Ví dụ nếu người chơi là khách quen mua 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) tiền đề thì người bán thực tế chỉ thu số tiền 75.000₫ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) hoặc 80.000đ (T12 mươi nghìn đồng. Chủ lô, đề là người chịu trách nhiệm thanh toán tiền thắng, thua với người mua. Các thư ký được hưởng tiền hoa hồng theo thỏa thuận.

Quá trình điều tra chứng minh hành vi đánh bạc trái phép được thu bằng tiền dưới hình thức ghi bán các số lô, đề của một số đối tượng sau:

Bị cáo Đào Anh K và Chu Tuấn T7:

Căn cứ vào sao kê tài khoản ngân hàng, lời khai của K và Chu Tuấn T7, sinh năm 1992 ở cùng tổ dân phố với K, đủ căn cứ xác định: Khoảng từ tháng 3/2023 đến tháng 4/2023, K 02 lần tham gia đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức mua, bán số lô, đề với Chu Tuấn T7, cụ thể:

  • Lần 1: Ngày 17/4/2023, T7 ghi (Mua) của K số lô 39 - 325 điểm tương ứng 7.150.000₫ (Bẩy triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng). Kết quả, T7 trúng số lô 39 (Ba mươi chín) nên được số tiền 26.000.000đ (Hai mươi sáu triệu đồng). Ngày 19/4/2023 K chuyển khoản cho T7 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng) từ tài khoản của Khúc Xuân T11 đến tài khoản của T7, còn 1.000.000₫ (Một triệu đồng) T7 để đánh tiếp tuy nhiên sau đó T7 không đánh nữa. Như vậy số tiền liên quan đến việc đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô, đề giữa K và T7 là 33.150.000đ (Ba mươi ba triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng).
  • Lần 2: Ngày 15/3/2023, T7 mua các số đề đầu 2 với số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng)/ 1 số. Sau đó T7 trúng con đề 24 (Hai mươi bốn) với số tiền 21.000.000₫ (Hai mươi mốt triệu đồng). Ngoài ra T7 còn mua 1 số lô thường, lô xiên và có trúng nhưng cả T7 và K đều không nhớ số lô và số tiền cụ thể, K chỉ nhớ đã chuyển khoản cho T7 tổng số tiền là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) bằng tài khoản của Khúc Xuân T11 đến tài khoản của T7. Như vậy, đối với lần này xác định số tiền K và T7 đánh bạc là 24.000.000₫ (Hai mươi bốn triệu đồng). Đối với các số lô còn lại do không xác định được cụ thể số lô và số tiền đã đánh và thắng là bao nhiêu, nên tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Bị cáo Đỗ Trọng T2, Nguyễn Hữu P và Khúc Xuân T8:

Căn cứ vào hình ảnh tin nhắn điện thoại, sao kê tài khoản ngân hàng và lời khai của T2, Khúc Xuân T8, sinh năm 1988 và Nguyễn Hữu P, sinh năm 1976, đều ở

cùng tổ dân phố với T2, xác định: Trong tháng 4/2023, T2 đã 02 lần tham gia đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức ghi bán số lô, đề cho Khúc Xuân T8 và Nguyễn Hữu P. Cụ thể :

  • Lần 1: Ngày 09/4/2023, T2 ghi (bán) cho Khúc Xuân T8 với tổng số tiền đánh bạc là 31.200.000đ (Ba mươi mốt triệu, hai trăm nghìn đồng).
  • Lần 2: Ngày 12/4/2023, T2 ghi (bán) cho Nguyễn Hữu P với tổng số tiền đánh bạc là 17.300.000đ (Mười bảy triệu, ba trăm nghìn đồng).

Ngoài ra T2 còn ghi (bán) số lô, đề cho Đào Duy G1, sinh năm: 1980 ở tổ dân phố L, phường N 03 lần (các ngày 30/4/2023, 01/5/2023 và 03/5/2023), mỗi lần đều dưới 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Bán cho Nguyễn Khắc C, sinh năm: 1981 ở tổ dân phố L, N các ngày 01, 03, 04, 10, 17, 26, 28 trong tháng 4/2023 các lần mua số đề đều dưới 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với G1 và C về hành vi nêu trên .

Bị cáo Nguyễn Thị T, Lê Thị Thùy D và Ngọ Quang L2:

Căn cứ vào tin nhắn điện thoại và lời khai của D, T, L2, quá trình điều tra xác định: D là thư ký ghi (bán) số lô, đề cho T. Hàng ngày D nhận số lô đề của người chơi sau đó chuyển số lô, đề cho T qua số điện thoại di động 0343.257.xxx của T để hưởng tỷ lệ hoa hồng. Với mỗi điểm lô, D bán cho khách 22.000đ (Hai mươi hai nghìn đồng) và phải trả cho T 21.900đ (Hai mươi mốt nghìn chín trăm đồng), (D được hưởng 100đ/ 1 điểm). Với số đề, D phải trả Tuyết 75% và bán cho khách 85-90%. Cụ thể như sau:

  • - Ngày 04 tháng 5 năm 2023, D ghi (bán) cho L2 các số lô, đề với tổng số tiền là 20.680.000đ (Hai mươi triệu, sáu trăm tám mươi nghìn đồng). Ghi (bán) cho Phạm Thị T13, sinh năm 1981 ở tổ dân phố N, N, Mỹ Hào các số đề và đề ba càng với tổng số tiền là 290.000₫ (Hai trăm chín mươi nghìn đồng). Ghi (bán) cho Nguyễn Mạnh H2, sinh năm 1981 ở tổ dân phố P các số lô, đề với tổng số tiền là 970.000₫ (Chín trăm bảy mươi nghìn đồng). Như vậy, ngày 4/5/2023 D ghi bán số lô, đề cho L2, H2, T13 với tổng số tiền là 21.940.000₫ (Hai mươi mốt triệu, chín trăm bốn mươi nghìn đồng). L2 phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền đánh bạc là 20.680.000₫ (Hai mươi triệu, sáu trăm tám mươi nghìn đồng). T13 và H2 có số tiền đánh bạc dưới 5.000.000đ (Năm triệu đồng) nên Công an thị xã M đã ra Quyết định xử phạt hành chính là có căn cứ.

L2 khai các số lô đề trên là L2 cùng Hoàng Tiến T14, sinh năm 1982, cùng là nhân viên bệnh viện Đ4 chung tiền đánh với L2. Quá trình điều tra, T14 xác định không tham gia đánh bạc với L2. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho L2 và T14 đối chất nhưng L2 và T14 vẫn giữ nguyên lời khai của mình. Do vậy chưa đủ căn cứ xử lý đối với T14.

Ngoài ra, D khai còn ghi (bán) cho Nguyễn Trọng H3 ở tổ dân phố Q các số lô, đề với tổng số tiền 3.630.000đ (Ba triệu, sáu trăm ba mươi nghìn đồng). Tuy nhiên cơ quan điều tra đã triệu tập nhưng chưa làm việc được với H3 nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ sau.

  • - Ngày 04 tháng 5 năm 2023, D nhận các số lô đề của khách và chuyển cho T từ số điện thoại của D 0972.404.xxx sang số điện thoại 0343.257.xxx của T gồm: 1011 (Một nghìn không trăm mười một) điểm lô bằng 22.242.000đ (Hai mươi hai triệu, hai trăm bốn mươi hai nghìn đồng), 2.378.000₫ (Hai triệu, ba trăm bảy mươi tám nghìn đồng) tiền đề và 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) tiền đề ba càng. Tổng số tiền lô, đề D và T phải chịu trách nhiệm hình sự là 24.670.000₫ (Hai mươi bốn triệu, sáu trăm bảy mươi nghìn đồng).

Ngoài ra D và T khai: T cho D chuyển lô, đề qua 2 hình thức là tin nhắn văn bản và tin nhắn zalo, đối với tin nhắn văn bản (là các số lô đề nói trên) T yêu cầu D phải thanh toán luôn theo đợt còn tin nhắn trong zalo sẽ cho D nợ trả sau. Tuy nhiên, cơ quan điều tra không phát hiện, thu giữ được tin nhắn trong zalo nên tiếp tục xác minh làm rõ sau.

  • - Ngày 03 tháng 05 năm 2023, D đã nhận của người chơi và chuyển cho T các số lô, đề từ số điện thoại của D 0972.404.xxx sang số điện thoại 0343.257.xxx của T với tổng số 26.840.000₫ (Hai mươi sáu triệu, tám trăm bốn mươi nghìn đồng) tiền lô, đề. Trong đó trúng 486 (Bốn trăm tám mươi sáu) điểm lô bằng 38.880.000₫ (Ba mươi tám triệu, tám trăm tám mươi nghìn đồng). Đối với các số lô đề ngày 03/5/2023 D không nhớ đã bán cho ai, tuy nhiên căn cứ vào lời khai của D, T và lời khai của những người chơi đã mua số lô đề của D ngày 04/5/2023, tin nhắn D gửi cho T ngày 04/5/2023 xác định việc D khai nhận số lô đề của người chơi rồi chuyển cho T để hưởng tỷ lệ hoa hồng là có căn cứ. Do vậy tổng số tiền D và T phải chịu trách nhiệm hình sự ngày 03/5/2023 là 65.720.000₫ (Sáu mươi năm triệu, bảy trăm hai mươi nghìn đồng). Toàn bộ số tiền liên quan việc bán số lô đề nói trên, các bên chưa thanh toán với nhau.

Bị cáo Trương Thị T1:

Quá trình điều tra T1 khai là thư ký ghi, bán số lô đề cho đối tượng tên C1 ở Y, Hưng Yên (Thỏa không rõ tên, tuổi, địa chỉ của C1, C1 do T giới thiệu). Dưới T1 có một số thư ký khác gồm: Đỗ Trọng T2, Đào Anh K, Nguyễn Thị T (là thư ký cấp 2, ngoài ra còn có Lê Thị Thùy D là thư ký cho T), Nguyễn Trọng T15, sinh năm 1989, Trương Xuân H4, sinh năm 1964, Vũ Đình S, sinh năm 1977, Vũ Thành Đ3, sinh năm 1976, đều ở cùng tổ dân phố với T1. Thỏa bán cho thư ký cấp dưới 1 (Một) điểm lô là 21.800đ (Hai mươi mốt nghìn, tám trăm đồng), T1 phải trả cho C1 21.700đ (Hai mươi mốt nghìn, bảy trăm đồng), T1 được hưởng lợi 100đ/ 1 điểm lô. Đối với số đề Thỏa cắt cho thư ký cấp dưới 26% số tiền bán được, T1 được C1 cắt cho 28%, T1 được hưởng 2% tiền bán được, nghĩa là cứ 10.000đ (Mười nghìn đồng) tiền đề, T1 được hưởng 200đ (Hai trăm đồng). Riêng đối với T, T1 không tính tiền hoa hồng.

Căn cứ vào đoạn ghi âm cuộc gọi điện thoại giữa T2 và T1, xác định: ngày 23/4/2023, T2 chuyển cho Thỏa 200 (Hai trăm) điểm lô 11 tương ứng với số tiền 4.360.000₫ (Bốn triệu, ba trăm sáu mươi nghìn đồng). Do số tiền liên quan đến đánh bạc là dưới 5.000.000đ (Năm triệu đồng) nên Công an thị xã M đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với T2, T1 về hành vi nêu trên.

Đối với các số lô đề đã chứng minh được K bán cho T7, T2 bán cho P và T8, T bán cho D, D bán cho L2, T1 khai không nhận các số lô đề này; cũng không có tài liệu nào chứng minh T2, T và K chuyển các số lô đề nào, cụ thể bao nhiêu tiền, vào thời gian nào với T1. Trên sổ theo dõi của T1 có ghi số liệu tiền chốt lô đề của các thư ký cấp dưới nhưng không cụ thể là số nào và từng số là bao nhiêu tiền, cả T1 và T2, K, T đều khai việc chốt tiền lô đề cộng dồn nhiều ngày cho đến khi trên 10.000.000 đồng mới thanh toán. Do vậy chưa có căn xác định được số tiền trong sổ Thỏa ghi là tiền các thư ký cấp dưới đánh trong 1 lần đánh bạc hay nhiều lần đánh bạc.

Đối với S, H4, Đ3, T15 mặc dù các bên đều khai có việc T1 nhận số lô đề của những người này, trong quyển sổ thu giữ của T1 có thể hiện việc chốt tiền, tuy nhiên các bên đều xác định việc chốt tiền là cộng dồn nhiều ngày để thanh toán; ngoài ra không có tài liệu gì chứng minh Sơn, H4, Đ3, T15 đã chuyển các số lô đề nào, bao nhiêu tiền, bao nhiêu lần cho T1, do vậy chưa có căn cứ xác định T1 là đại lý cấp trên của T2, K, T, S, H4, Đ3 và T15. Đối với đối tượng C1 chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ đối với hành vi của T1, S, H4, Đ3, T15 và đối tường C1.

Quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Thị T, Lê Thị Thùy D, Trương Thị T1, Ngọ Quang L2, Đào Anh K, Đỗ Trọng T2, Hoàng Quốc V, Nguyễn Hữu P, Khúc Xuân T8, Chu Tuấn T7 và Đỗ Văn L3, đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 22/3/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên đã quyết định:

  • * Căn cứ:
  • + Điểm c khoản 2 Điều 322; Điều 17; khoản 1 Điều 38; khoản 1 Điều 54; Điều 58; Điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị T và Trương Thị T1. Áp dụng thêm điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị T;
  • + Điểm c khoản 2 Điều 321; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đào Anh K và Đỗ Trọng T2. Áp dụng thêm điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với Đào Anh K, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với Đỗ Trọng T2;
  • * Về tội danh:
  • - Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị T và Trương Thị T1 đều phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
  • - Tuyên bố các bị cáo Đỗ Trọng T2, Đào Anh K, phạm tội “Đánh bạc”.
  • * Hình phạt:

1- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 03 (Ba) năm tù. Bị cáo được trừ 02 (Hai) tháng 09 (Chín) ngày đã bị tạm giữ, tạm giam; Bị cáo còn phải chấp hành 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

2- Xử phạt bị cáo Trương Thị T1 03 (Ba) năm tù. Bị cáo được trừ 01 (Một) tháng 27 (Hai mươi bảy) ngày đã bị tạm giữ, tạm giam; Bị cáo còn phải chấp hành 02 (Hai) năm 10 (Mười) tháng 03 (Ba) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

3- Xử phạt bị cáo Đào Anh K 03 (Ba) năm tù. Bị cáo được trừ 09 (Chín) ngày đã bị tạm giữ; Bị cáo còn phải chấp hành 02 (Hai) năm 11 (Mười một) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

4- Xử phạt bị cáo Đỗ Trọng T2 03 (Ba) năm tù. Bị cáo được trừ 01 (Một) tháng 14 (Mười bốn) ngày đã bị tạm giữ, tạm giam; Bị cáo còn phải chấp hành 02 (Hai) năm 10 (Mười) tháng 16 (Mười sáu) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra bản án còn quyết định về tội danh, mức hình phạt đối với các bị cáo khác không có kháng cáo; biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 26/3/2024, bị cáo K kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Ngày 27/3/2024, bị cáo T1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Ngày 28/3/2024, bị cáo T2 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Ngày 3/4/2024, bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Trước khi xét xử phúc thẩm, bị cáo T2 xuất trình đơn xin xác nhận cứu được nạn nhân đuối nước có xác nhận của UBND phường N; bị cáo T xuất trình đơn xác nhận nhặt được tiền và trả lại cho người bị mất có xác nhận của Công an phương N1.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Thị T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.

Bị cáo Trương Thị T1, Đỗ Trọng T2, Đào Anh K vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá nguyên nhân thực hiện hành vi phạm tội, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn Thị T và Trương Thị T1 về tội “Tổ chức đánh bạc”; xét xử các bị cáo Đỗ Trọng T2, Đào Anh K về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai. Mức hình phạt 03 năm tù đối với mỗi bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, các bị cáo T1, K không có thêm tình tiết giảm nhẹ TNHH mới; các bị cáo T2, T được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, xét tính chất

mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò đồng phạm của các bị cáo trong vụ án, đại diện VKSND tỉnh đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Thị T, Trương Thị T1, Đỗ Trọng T2, Đào Anh K, giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của của các bị cáo Nguyễn Thị T, Trương Thị T1, Đỗ Trọng T2, Đào Anh K đảm bảo về hình thức, trong thời hạn luật định, là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Bị cáo Nguyễn Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn xin vắng mặt nên HĐXX xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 351 BLTTHS.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo T1, T2, Κ thừa nhận hành vi phạm tội của mình và của bị cáo đồng phạm khác trong vụ án như bản án sơ thẩm nêu là đúng. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định:

Trong khoảng thời gian từ cuối năm 2022 đến tháng 5/2023, Nguyễn Thị T đã có hành vi cấp cho các thư ký (Trương Thị T1 – giao tài khoản cá độ bóng đá cho Đào Anh K và Lê Thị Thùy D – giao tài khoản cá độ bóng đá cho Ngọ Quang L2), hoặc người đánh bạc (Đỗ Trọng T2) 03 tài khoản cá độ bóng đá để tổ chức cá độ 10 (mười) trận bóng đá với tổng số tiền là 107.407.000đ (Một trăm linh bảy triệu, bốn trăm linh bảy nghìn đồng). Cụ thể: 01 trận giữa K và V với số tiền 10.255.000đ (Mười triệu, hai trăm năm mươi lăm nghìn đồng) ngày 22/4/2023; 01 trận giữa T2 và L3 với số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) ngày 22/4/2023; 08 trận của L2 với số tiền 92.152.000đ (Chín mươi hai triệu, một trăm năm mươi hai nghìn đồng) trong các ngày 28, 29, 30/4/2023 và 03/5/2023. Khoảng từ tháng 3/2023 đến tháng 4/2023, Đào Anh K 02 lần tham gia đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức mua, bán số lô, đề với Chu Tuấn T7 với tổng số tiền 57.150.000đ (Năm mươi bảy triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng); Ngày 17/4/2023 K và T7 đánh bạc với tổng số tiền 33.150.000₫ (Ba mươi ba triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng); Ngày 15/3/2023, K và T7 đánh bạc với tổng số tiền 24.000.000đ (Hai mươi bốn triệu đồng).

+ Trong tháng 4/2023, Đỗ Trọng T2 đã 02 lần tham gia đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức ghi bán số lô, đề cho Khúc Xuân T8 và Nguyễn Hữu P với tổng số tiền là 48.500.000₫ (Bốn mươi tám triệu, năm trăm nghìn đồng); Ngày 09/4/2023 T2 ghi (bán) cho Khúc Xuân T8 với tổng số tiền đánh bạc là 31.200.000đ (Ba mươi mốt triệu, hai trăm nghìn đồng); Ngày 12/4/2023,

T2 ghi (bán) cho Nguyễn Hữu P với tổng số tiền đánh bạc là 17.300.000đ (Mười bảy triệu, ba trăm nghìn đồng).

Do đó, Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào đã xét xử các bị cáo Nguyễn Thị T và Trương Thị T1 về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật hình sự; xét xử các bị cáo Đỗ Trọng T2, Đào Anh K về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật hình sự; của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Thị T, Trương Thị T1, Đỗ Trọng T2, Đào Anh K, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội tại địa phương.

Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội; vị trí vai trò, nhân thân của các bị cáo; áp dụng đầy đủ, chính xác các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Từ đó, xét xử mỗi bị cáo 3 năm tù là phù hợp. Bị cáo T, T1 phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, lại giữ vai trò chính trong vụ án. Bị cáo K và T2 phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Bị cáo T, K, T2 đều phạm tội hai lần trở lên, trong đó có lần là phạm tội rất nghiêm trọng (bị cáo T) và phạm tội nghiêm trọng (bị cáo K và T2). Do đó, các bị cáo đều không đủ điều kiện cho hưởng án treo theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao. Do đó, HĐXX không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo.

Tại tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo T1, K không có thêm tình tiết giảm nhẹ mới nên không có căn cứ xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo T2 xuất trình đơn xin xác nhận cứu được nạn nhân đuối nước có xác nhận của UBND phường N; bị cáo T xuất trình đơn xác nhận nhặt được tiền và trả lại cho người bị mất có xác nhận của Công an phường N1 nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như vị trí, vai trò đồng phạm của các bị cáo trong vụ án, HĐXX xét thấy mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo đã phù hợp nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo.

[4]. Quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa có căn cứ chấp nhận.

[5]. Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 343; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1.Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị T, Trương Thị T1, Đỗ Trọng T2, Đào Anh K, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm 20/2024/HSST ngày 22/3/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên đối với các bị cáo.

Tuyên xử:

1.1.Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 322; Điều 17; khoản 1 Điều 38; khoản 1 Điều 54; Điều 58; Điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị T và Trương Thị T1. Áp dụng thêm điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị T:

  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 03 (Ba) năm tù về tội "Tổ chức đánh bạc". Bị cáo được trừ 02 (Hai) tháng 09 (Chín) ngày đã bị tạm giữ, tạm giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
  • - Xử phạt bị cáo Trương Thị T1 03 (Ba) năm tù về tội "Tổ chức đánh bạc". Bị cáo được trừ 01 (Một) tháng 27 (Hai mươi bảy) ngày đã bị tạm giữ, tạm giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

1.2. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đào Anh K và Đỗ Trọng T2. Áp dụng thêm điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với Đào Anh K, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với Đỗ Trọng T2;

  • - Xử phạt bị cáo Đào Anh K 03 (Ba) năm tù về tội "Đánh bạc". Bị cáo được trừ 09 (chín) ngày bị tạm giữ. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
  • - Xử phạt bị cáo Đỗ Trọng T2 03 (Ba) năm tù về tội "Đánh bạc". Bị cáo được trừ 01 (một) tháng 14 (mười bốn) ngày đã bị tạm giữ, tạm giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

2. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị T, Trương Thị T1, Đỗ Trọng T2, Đào Anh K mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I - TAND Tối cao;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNV - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - CA, VKS, THADS thị xã Mỹ Hào;
  • - TAND thị xã Mỹ Hào (2b);
  • - Các bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, VP, Tòa HC.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS-PT ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 46/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T và đồng phạm phạm tôi Tổ chức đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger