Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HS-ST

Ngày: 04-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh.

Thẩm phán: Ông Nguyễn Tuấn Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Thanh Phương;
  2. Ông Phạm Văn Lâm;
  3. Ông Huỳnh Ngọc Trước.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Minh H, sinh năm 1993, tại: Đồng Tháp; Nơi thường trú: Tổ B, khóm C, Phường F, TP ., tỉnh Đồng Tháp; Nơi ở: Phòng trọ số B, nhà T,, đường P, khóm C, phường D, TP ., tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Đỗ Minh H1, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1973; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo lớn nhất; Vợ: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không; Tạm giữ ngày 28/11/2022; Tạm giam ngày 07/12/2022; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Minh H theo luật định: Luật sư Đỗ Thành S - Văn phòng L8 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ (có mặt).

Bị hại:

  1. Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Huỳnh Thị Thúy H2, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
  3. Trương Công Â, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Thôn H, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.
  4. Nguyễn Thị Phương T1, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Tổ A, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  5. Lê Thanh Trúc C, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Số A, ấp P, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
  6. Trần Thị Châu L, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Tổ Dân Phố T, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
  7. Huỳnh Thị Mỹ L1, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
  8. Phạm Thị Hằng L2, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Số A, khu phố H, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.
  9. Lê Thị Thanh N, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị.
  10. Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Số B, đường N, Khu phố C, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.
  11. Nguyễn Thị N1, sinh ngày 05/9/1996; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, Hưng Yên.
  12. Nguyễn Thị Thúy N2, sinh ngày 16/8/1984; Nơi cư trú: Khu A, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
  13. Phạm Thị Minh T3, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Tổ A, phố K, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
  14. Nguyễn Thị Thanh L3, sinh năm 1989; Nơi cư trú: ấp M, xã H, huyện P, Hậu Giang.
  15. Trương Quang V, ngày sinh 13/11/1987; Nơi cư trú: Thôn I, xã K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
  16. Nguyễn Duy V1, sinh ngày 05/5/1991; Nơi cư trú: Buôn K, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông.
  17. Trương Ánh M1, sinh ngày 22/02/1986; Cư trú: Tổ Dân Phố B, thị trấn K, huyện Đ, Đắk Nông.
  18. Lê Thị Bích T4, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện P, Bạc Liêu.
  19. Lê Thị Tú T5, ngày sinh 11/01/1993; Nơi cư trú: Số A, đường L, tổ H, phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum.
  20. Trần Tú H3, sinh ngày 07/01/1991; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng.
  21. Phan Thị Ngọc B, ngày sinh 21/12/1983; Nơi cư trú: Số A V, khóm A, phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
  22. Nguyễn Văn B1, sinh ngày 18/12/1992; Nơi cư trú: Tổ A, khu V, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
  23. Phạm Thị Cẩm N3, sinh năm 2000; Nơi cư trú: Khu vực T, phường T, Quận T, thành phố Cần Thơ.
  24. Nguyễn Quế T6, sinh ngày 27/12/2002; Nơi cư trú: Ấp T, xã X, huyện T, thành phố Cần Thơ.
  25. Nguyễn Thị Cẩm P, sinh năm 1992; Nơi cư trú: 11B15/, tổ C, KV3, Phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
  26. Trương Oanh Y, sinh ngày 06/11/1987; Nơi cư trú: Tổ D, khu phố H, Thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  27. Trần Nữ Mai H4, sinh ngày 04/6/1998; Cư trú: Thôn D, xã B, huyện C, Bà Rịa - Vũng Tàu.
  28. Lê Thị Kim T7, ngày sinh 22/03/1989; Nơi cư trú: Ấp P, xã T, huyện V, Vĩnh Long.
  29. Đoàn Nhật C1, sinh ngày 02/8/1986; Cư trú: Ấp B, xã T, huyện V, Vĩnh Long.
  30. Nguyễn Thị Kim O, sinh ngày 25/4/1976; Nơi cư trú: Tổ D, khu vực 8, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
  31. Nguyễn Thị Hoàng N4, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Số D, phường K, Quận H, Thành phố Hà Nội.
  32. Phạm Thị T8, sinh ngày 15/3/1981; Nơi cư trú: Thôn D, Xã H, huyện T, Thành phố Hà Nội.
  33. Lê Thị Bé T9, sinh ngày 28/7/1986; Nơi cư trú: Thôn T, xã D, huyện T, TP ..
  34. Lê Thị T10, ngày sinh 07/01/1984; Nơi cư trú: Số A, lô 2, khu Đ - D, phường D, quận C, Thành phố Hà Nội.
  35. Nguyễn Thị Q, sinh ngày 05/8/1986; Nơi cư trú: Số nhà B, đường T, ấp H, xã A, thành phố T, tỉnh Long An.
  36. Nguyễn Thị Cẩm D, sinh ngày 12/11/2000; Nơi cư trú: Số B, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
  37. Nguyễn Văn R, sinh ngày 21/8/1994; Nơi cư trú: Ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Long An.
  38. Đỗ Kim T11, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Số nhà A, ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
  39. Lê Minh T12, sinh ngày 18/11/1985; Nơi cư trú: C T, phường A, thành phố T, Long An.
  40. Nguyễn Văn H5, sinh ngày 26/01/1991; Nơi cư trú: Số I, V, phường C, thành phố T, tỉnh Long An.
  41. Võ Thị Vi N5, sinh ngày 13/4/1992; Nơi cư trú: Khu phố B, thị trấn T, huyện T, Long An.
  42. Nguyễn Ngọc T13, sinh ngày 10/4/1988; Nơi cư trú: ấp F, xã L, huyện B, tỉnh Long An.
  43. Trần Nguyễn Hoàng Mộng Trà M2, sinh ngày 11/10/1992; Nơi cư trú: Đường L, khu phố A, phường B, Thị xã K, tỉnh Long An.
  44. Lê Thị L4, sinh ngày 03/10/1991; Nơi cư trú: xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.
  45. Nguyễn Thị Quỳnh T14, sinh ngày 02/9/1994; Nơi cư trú: Xóm B, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
  46. Phạm Văn V2, sinh ngày 01/01/1990; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, Long An.
  47. Châu Ngọc T15, sinh ngày 26/3/1997; Nơi cư trú: Thôn B, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
  48. Trần Ngọc Mai T16, sinh năm 1990; Nơi cư trú: 21/10, đường T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
  49. Nguyễn Thị Hà M3, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Hẻm G, đường H, phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
  50. Nguyễn Hữu N6, sinh ngày 25/11/1992; Nơi cư trú: Hẻm A M, phường I, thành phố Đ, Lâm Đồng.
  51. Nguyễn Thị Mộng K, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
  52. Trần Thị Diễm L5, sinh ngày 10/2/1998; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện M, Bến Tre.
  53. Nguyễn Ngọc D1, sinh ngày 14/10/1997; Nơi cư trú: Số nhà D, khu phố B, phường F, TP ..
  54. Phan Thị Cẩm N7, sinh ngày 14/9/1994; Nơi cư trú: Tổ H, ấp B, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
  55. Trương Thị T17, sinh ngày 15/05/1986; Nơi cư trú: Tổ C, ấp A, xã H, huyện C, An Giang.
  56. Huỳnh Thị Tú O1, sinh năm 1986; Nơi cư trú: số E Đường Ô, tổ C, khu phố G, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.
  57. Nguyễn Thị Thúy K1, sinh ngày 04/10/1997; Nơi cư trú: Số F tổ C, khu phố B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  58. Trần Hà Vĩnh S1, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
  59. Lê Thị H6, sinh năm 1987; Nơi cư trú: K, tổ E, phường H, quận L, TP Đà Nẵng.
  60. Nguyễn Thị H7, sinh ngày 20/12/1968; Nơi cư trú: Số K, đường H, tổ A, phường B, quận H, TP Đà Nẵng.
  61. Trần Thị Ánh T18, sinh ngày 04/5/1981; Nơi cư trú: Số F, đường N, tổ dân phố E, phường T, quận S, TP Đà Nẵng.
  62. Dương Thị H8, sinh năm 1969; Nơi cư trú: K, tổ C, phường A, Quận S, TP Đà Nẵng.
  63. Đặng Thị Kim C2, sinh năm 1984; Nơi cư trú: 142/8 đường B, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.
  64. Trần Viết T19, sinh năm 1976; Nơi cư trú: số B, DC7, tổ E, khu phố C, phường S, quận T, TP HCM.
  65. Nguyễn Thị Kim N8, ngày sinh 17/8/1991; Nơi cư trú: 371, đường L, tổ I, KH5, phường B, quận B, TP Hồ Chí Minh.
  66. Thái Ngô Thảo T20, sinh ngày 20/4/2004; Nơi cư trú: số E đường A, tổ Dân Phố G, khu phố F, phường A, quận B, TP Hồ Chí Minh.
  67. Tạ Thị Thùy T21, sinh ngày 11/10/1985; Nơi cư trú: 28K Đ, tổ D, khu phố C, phường A, Quận B, TP Hồ Chí Minh.
  68. Danh Minh P1, ngày sinh 14/10/1987; Nơi cư trú: Ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
  69. Nguyễn Thị Thu T22, sinh ngày 4/4/1991; Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
  70. Trần Hồ Toại N9, ngày năm 1983; Cư trú: Tổ E, phường Q, thành phố Q, Bình Định.
  71. Nguyễn Thị Mỹ D2, sinh ngày 09/9/1973; Nơi cư trú: N41, đường T, khóm F, phường D, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
  72. Phạm Xuân D3, sinh ngày 30/10/1971; Cư trú: TDP D, thị trấn T, huyện H, Bắc Giang.
  73. Đỗ Văn T23, sinh ngày 29/8/1982; Nơi cư trú: Tổ Dân Phố C, Thị trấn A, huyện A, thành phố Hải Phòng.
  74. Phạm Thị H9, sinh ngày 12/12/1989; Nơi cư trú: Thôn Q, xã C, huyện L, Bắc Giang.
  75. Nguyễn Thanh T24, sinh ngày 12/8/1991; Nơi cư trú: Đ, thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.
  76. Đoàn Thị Lệ H10, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Số C ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.
  77. Huỳnh Thái C3, sinh năn 1995; Nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.
  78. Dương Hương L6, ngày sinh 4/4/1981; Nơi cư trú: Tổ dân phố số A, phường P, Q, Thành phố Hà Nội.
  79. Nguyễn Thị Minh H11, ngày sinh 10/9/1984; Nơi cư trú: P711 nhà E3B Khu Đ, phường Y, Quận C, Thành phố Hà Nội.
  80. Nguyễn Thanh B2, sinh ngày 20/7/1998; Nơi cư trú: 41, đường N, phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

(Các bị hại đều vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị T, sinh năm 1973 (có mặt);

Địa chỉ: Tổ B, khóm C, phường F, TP ., tỉnh Đồng Tháp;

Người làm chứng:

  1. Nguyễn Văn K2, sinh năm 1960 (vắng mặt); Nơi cư trú: Khóm E, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Lê Thị Trúc G, sinh năm 1967 (vắng mặt); Nơi cư trú: Tổ 27, khóm C, Phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Minh H thường ngày sống bằng nghề làm thuê với nhiều nghề khác nhau như; bán shop quần áo, phục vụ quán ăn để sinh sống cho bản thân, nhưng do bản tính đua đòi muốn có thật nhiều tiền tiêu xài cá nhân. H đã nảy sinh ý định lừa đảo thông qua mạng xã hội Facebook nhằm để chiếm đoạt tiền của nhiều người bị hại để tiêu xài cá nhân cụ thể:

Khoảng cuối tháng 8/2021, H đọc được một bài viết kêu gọi từ thiện trên mạng xã hội nên H đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thông qua hình thức kêu gọi từ thiện để chuẩn bị việc thực hiện hành vi lừa đảo. H đã mua 01 điện thoại di động (ĐTDĐ) hiệu Oppo Reno6Z màu đen, gắn sim số 0797.686.774 rồi tự mình tạo trên trang mạng xã hội Facebook cá nhân đặt tên giả “Nguyễn Phương N10” rồi lấy hình ảnh của một người phụ nữ có trên mạng xã hội Facebook, copy làm hình ảnh đại diện trên trang Facebook. Với mục đích khi H kết bạn với nhiều người bị hại trên trang mạng Facebook nhằm để đánh lừa không cho biết “hình ảnh đại diện và tên thật của mình là Đỗ Minh H”. Sau khi H tạo trang cá nhân mang tên “Nguyễn Phương N10” và hình ảnh đại diện trên trang Facebook qua điện thoại. H cho đăng tải nội dung thông tin bài viết lên trên trang mạng xã hội Facebook với nội dung: “Em xin mọi người hãy bớt chút lòng thơm thảo giúp con với ạ, lời cầu cứu của người cha đơn thân bị ung thư máu cho con gái Đỗ Diệu L7 19 tháng tuổi bị bỏng, mẹ con mới mất cách đây 4 tháng do bị tai nạn trên đường đi làm về, hiện 02 bố con đang sống cùng bà nội. Bé Diệu L7 bị bỏng nặng 35%, trong đó 28% độ sâu 3-4 ở đầu, mặt, cổ, thân, chi, phần mặt của bé bị bỏng nặng ảnh hưởng trực tiếp đến mắt và đường hô hấp, xin cho con chút viện phí để làm phẩu thuật, để con có thể lành lại hồn nhiên như xưa, như bao em trẻ khác. Mọi người có thể đến trực tiếp thăm con tại bệnh viện. Số điện thoại bố con là H: 0797.686.xxx hoặc có thể chuyển tiền trực tiếp giúp đỡ cho bố con Đỗ Minh H, số tài khoản 07007108890 Ngân hàng S2. Xin chân thành cảm ơn, xin mọi người hãy chia sẽ bài viết này để cứu giúp bé cho đi là còn mãi”. Để tạo niềm tin cho nội dung bài viết tăng thêm lượt cho nhiều người vào xem tin tưởng nội dung trên do H đăng là có thật. H còn kèm theo bài viết cùng một hình ảnh của một em bé bị bỏng trên gương mặt và người cha đang chăm sóc con trong bệnh viện do H đã tải bài đăng trên mạng về.

Sau khi H đăng tải nội dung bài viết trên trang mạng Facebook thì đã có rất nhiều lượt người bị hại đã tin tưởng vào xem nội dung tin bài viết H đăng tải là có thật. Ngày 24/11/2022, bị hại Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1991, ngụ ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp đã chuyển tiền ủng hộ 200.000 đồng từ số tài khoản 644704060063833 của anh M, chuyển vào số tài khoản 07007108890 cho H. Ngày 28/11/2022, anh M tiếp tục chuyển 3.000.000 đồng cho H, tổng cộng 02 lần chuyển tiền 3.200.000 đồng. Ngày 27/11/2022, bị hại Huỳnh Thị Thúy H2, sinh năm 1988, ngụ ấp T, xã T, thành phố C đã chuyển tiền ủng hộ 2.500.000 đồng từ số tài khoản 9759068989 của chị H2, chuyển vào số tài khoản 07007108890 cho H. Ngoài ra, do H có đăng ký dịch vụ Internet Banking từ số điện thoại 0797.686.xxx nên có nhiều người bị hại chuyển tiền từ 100.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng vào tài khoản thì H đều biết, cứ 02 ngày đến 03 ngày, H thấy lượt chuyển tiền của nhiều người bị hại chuyển vào tài khoản từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, H đến địa điểm có trụ ATM trên địa bàn thành phố C để rút tiền mặt.

Đến khoảng 7 giờ ngày 28/11/2022, chị H2 và anh M, phát hiện xem thông tin bài viết trên trang mạng Facebook của H đăng là không có thật để nhằm lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị H2 và anh M nên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ trình báo và làm đơn tố cáo. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày 28/11/2022, Đỗ Minh H đang thực hiện hành vi rút 7.000.000 đồng qua số tài khoản 07007108890 của những người bị hại đã chuyển cho H tại trụ ATM - Ngân hàng S2 thuộc tổ D, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp thì bị lực lượng Công an phát hiện tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội qua tang đối với Đỗ Minh H. Đồng thời thu giữ niêm phong vật chứng theo quy định pháp luật để điều tra làm rõ gồm: 7.000.000 đồng (trong đó có số tiền 2.500.000 đồng của bị hại H2 chuyển tiền vào ngày 27/11/2022 và số tiền 3.200.000 đồng của bị hại M chuyển tiền 02 lần vào các ngày 24/11/2022 chuyển 200.000 đồng, ngày 28/11/2022 chuyển 3.000.000 đồng).

  • - 01 xe Honda nhãn hiệu SH màu trắng mang biển kiểm soát: 66P2-28670.
  • - 01 điện thoại Iphone 13 Promax màu xanh.
  • - 01 thẻ ATM số tài khoản 070067108890 mang tên Đỗ Minh H.
  • - 01 Giấy đăng ký xe mang biển kiểm soát: 66P2-28670 do Đỗ Minh H đứng tên chủ sở hữu.
  • - 01 Giấy đăng ký xe mang biển kiểm soát: 66P2-41122 do Đỗ Minh H đứng tên chủ sở hữu.

Trước Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Đỗ Minh H trình bày đã dùng mạng xã hội Facebook mang tên “Nguyễn Phương N10” đăng tải nội dung thông tin bài viết không có thật nhằm để lừa đảo chiếm đoạt tiền nhiều người bị hại. Qua nội dung H đã trình bày, cùng ngày Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của H tại Nhà trọ 79, phòng số B, đường P, khóm C, phường D, TP . khám xét phát hiện thu giữ gồm:

  • - 01 Honda nhãn hiệu Piaggio- Vespa Sprint 150 màu đen mang biển kiểm soát số 66P2-41122.

Kiểm tra bên trong cốp xe phát hiện 01 túi xách màu đen xám bên trong có 690.500.000 đồng và 15 loại nữ trang kim loại màu vàng.

Kiểm tra trên gác phát hiện gồm:

  • 01 ĐTDĐ hiệu Nokia màu đen (mã số nhận dạng thiết bị di động quốc tế) có số IMEI 1- 356819638723422, số IMEI 2- 356819638723421, số thuê bao sim 1- 0763.207.529, sim 2- 0907.152.734.
  • 01 ĐTDĐ hiệu Oppo Reno6Z màu đen số IMEI 1-868311056351218, số IMEI 2-868311056351200, số thuê bao sim 1- 0797.686.774, sim 2- 0762.923.609.
  • 01 ĐTDĐ hiệu Oppo A52 màu đen số IMEI 1- 860354045433117, số IMEI 2-860354045433109, số thuê bao 0778.192.500.
  • - 01 Quyển tập học sinh (bên trong có ghi chữ viết và chữ số). Tất cả được niêm phong đúng theo luật định.

Tại Bản kết luận định giá số 16/KL-HĐĐGTS ngày 17/03/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận vàng, nữ trang và tài sản khác sản như sau:

Đối với vàng kèm theo bảng chiếc tính 1 gồm: Vàng, nữ trang có tổng khối lượng vàng 690,794 gam, tổng số 184,212 chỉ. Tổng trị giá là 815.075.144 đồng.

Đối với tài sản khác kèm theo bảng chiếc tính 2 gồm: Tài sản khác tổng trị giá 135.666.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản định giá 950.741.144 đồng.

Ngày 28/11/2022, Cơ quan điều tra trích xuất dữ liệu điện thoại di số 0797.686.xxx của Đỗ Minh H. Qua trích xuất dữ liệu phát hiện trên trang mạng Facebook mang tên “Nguyễn Phương N10” nội dung thông tin đăng tải 114 bài viết kêu gọi ủng hộ bé Diệu L7 có hình ảnh đăng tải.

Trước Cơ quan điều tra Đỗ Minh H đã thừa nhận hành vi nêu trên chiếm đoạt tiền của rất nhiều người bị hại của nhiều tỉnh, thành khác nhau bằng hình thức chuyển tiền vào số tài khoản 070067108890 cho H chiếm đoạt tiền.

Ngày 16/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ, G1 văn bản yêu cầu Ngân hàng TMCP S3 (S2) chi nhánh Đ cung cấp thông tin về lịch sử giao dịch số tài khoản 070067108890 mang tên Đỗ Minh H. Ngày 14/03/2023, Ngân hàng TMCP S3 (S2) chi nhánh Đ cung cấp thông tin, bản sao kê lịch sử giao dịch qua số tài khoản 070067108890 mang tên Đỗ Minh H kể từ ngày 01/9/2021 đến ngày 28/11/2022.

Kết quả Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ đã xác định được kể từ ngày 01/9/2021 đến ngày 28/11/2022. Có 5.556 người bị hại của 36 tỉnh, thành đã chuyển 5.562 lượt chuyển tiền (trong đó có 04 người bị hại đã chuyển tiền 02 lần và 01 người bị hại chuyển tiền 03 lần) vào số tài khoản 070067108890 cho H chiếm đoạt 1.235.811.442 đồng.

Trong số 5.556 người bị hại, Cơ quan điều tra chỉ làm việc ghi lời khai được 80 người bị hại, xác định ngày chuyển tiền, số tiền chuyển vào tài khoản H chiếm đoạt phù hợp với kết quả sau kê tài khỏan của Ngân hàng C4:

  1. Nguyễn Thị N4, sinh ngày 05/9/1996, ngụ thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên, ngày 23/11/2021 chuyển 200.000 đồng.
  2. Nguyễn Thị Thúy N2, sinh ngày 16/8/1984, ngụ khu A, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ, ngày 12/3/2022 chuyển 100.000 đồng.
  3. Phạm Thị Minh T3, sinh ngày 16/8/1984, ngụ tổ A, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, ngày 19/3/2022 chuyển 100.000 đồng.
  4. Nguyễn Thị Thanh L3, sinh năm 1989 ngụ ấp M, xã H, huyện P, Hậu Giang, ngày 20/7/2022 chuyển 1.000.000 đồng.
  5. Trương Quang V, ngày sinh 13/11/1987, ngụ Thôn I, xã K, huyện Đ, tỉnh Đắc Nông, ngày 04/11/2021 chuyển 300.000 đồng.
  6. Nguyễn Duy V1, sinh ngày 05/5/1991, ngụ Buôn K, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông, ngày 04/3/2022 chuyển 200.000 đồng.
  7. Trương Anh M4, sinh năm 1986, ngụ tổ Dân Phố B, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, ngày 04/11/2021 chuyển 200.000 đồng.
  8. Lê Thị Bích T25, ngụ ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, ngày 03/12/2021 chuyển 500.000 đồng.
  9. Lê Thị Tú T5, ngày sinh 11/01/1993, ngụ số A, đường L, tổ H, phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum, ngày 02/11/2021 chuyển 300.000 đồng.
  10. Trần Tú H3, sinh ngày 07/01/1991, ngụ ấp C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng, ngày 12/01/2022 chuyển 100.000 đồng.
  11. Phan Thị Ngọc B, ngày sinh 21/12/1983, ngụ số B, khóm F, phường F, TP S, Sóc Trăng, ngày 24/8/2022 chuyển 1.000.000 đồng.
  12. Nguyễn Văn B1, sinh ngày 18/12/1992, ngụ tổ A, khu V, phường A, TP ., tỉnh Thừa Thiên Huế, ngày 23/3/2022 chuyển 500.000 đồng.
  13. Phạm Thị Cẩm N3, ngụ khu vực T, phường T, Quận T, TP ., ngày chuyển 28/10/2021 chuyển 100.000 đồng.
  14. Nguyễn Quế T6, sinh năm 2002, ngụ ấp T, xã X, huyện T, TP Cần Thơ, ngày 20/8/2022 chuyển 100.000 đồng.
  15. Nguyễn Thị Cẩm P, sinh năm 1992, ngụ 11B15/, tổ C, KV3, Phường A, quận N, TP Cần Thơ, ngày 22/8/2022 chuyển 200.000 đồng.
  16. Trương Oanh Y, sinh ngày 06/11/1987, ngụ tổ D, khu phố H, TT L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, ngày 25/8/2022 chuyển 500.000 đồng.
  17. Trần Nữ Mai H4, sinh năm 1998, ngụ thôn F, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, ngày 19/01/2022 chuyển 500.000₫.
  18. Lê Thị Kim T7, ngày sinh 22/03/1989, ngụ ấp P, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long, ngày 08/10/2021 chuyển 50.000đ.
  19. Đoàn Nhật C1, sinh ngày 02/8/1986, ngụ ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long, ngày 17/8/2022 chuyển 100.000 đồng.
  20. Nguyễn Thị Kim O, sinh ngày 25/4/1976, ngụ tổ D, khu V, phường T, TP Q, tỉnh Bình Định, ngày 28/3/2022 chuyển 100.000 đồng.
  21. Nguyễn Thị Hoàng N4, sinh năm 1981, ngụ số D, phường K, Quận H, TP Hà Nội, ngày 12/8/2022 chuyển 200.000 đồng.
  22. Phạm Thị T8, sinh ngày 15/3/1981, ngụ xã H, huyện T, TP Hà Nội, ngày 18/12/2021 chuyển 100.000 đồng.
  23. Lê Thị Bé T9, sinh ngày 28/7/1986, ngụ thôn T, xã D, huyện T, TP Hà Nội. ngày 16/12/2021 chuyển 100.000 đồng.
  24. Lê Thị T10, ngày sinh 07/01/1984, ngụ số A, lô B, khu Đ - D, phường D, quận C, TP Hà Nội, ngày 28/6/2022 chuyển 1.500.000 đồng.
  25. Nguyễn Thị Q, sinh ngày 05/8/1986, ngụ số nhà B, đường T, ấp H, xã A, TP T, tỉnh Long An, ngày 13/10/2021 chuyển 200.000 đồng.
  26. Nguyễn Thị Cẩm D, sinh ngày 12/11/2000, ngụ số B ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An, ngày 10/10/2021 chuyển 200.000 đồng.
  27. Nguyễn Văn R, sinh ngày 21/8/1994, ngụ ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Long An, ngày 27/7/2022 chuyển 200.000 đồng.
  28. Đỗ Kim T11, sinh năm 1996, ngụ số nhà A, ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Long An, ngày 27/7/2022 chuyển 200.000 đồng.
  29. Lê Minh T12, sinh ngày 18/11/1985, ngụ C T, phường A, TP T, tỉnh Long An, ngày 15/10/2021 chuyển 500.000 đồng.
  30. Nguyễn Văn H5, sinh ngày 26/01/1991, ngụ số I, phường C, TP T, tỉnh Long An, ngày 6/01/2022 chuyển 500.000 đồng.
  31. Võ Thị Vi N5, sinh ngày 13/4/1992, ngụ khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An, ngày 24/5/2022 chuyển 500.000 đồng.
  32. Nguyễn Ngọc T13, sinh ngày 10/4/1988, ngụ ấp F, xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày 13/10/2022 chuyển 200.000 đồng.
  33. Trần Nguyễn Hoàng Mộng Trà M2, sinh ngày 11/10/1992, ngụ đường L, khu phố A, phường B, Thị xã K, tỉnh Long An, ngày 23/5/2022 chuyển 200.000 đồng.
  34. Lê Thị L4, sinh ngày 03/10/1991, ngụ xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, ngày 20/10/2022 chuyển 500.000 đồng.
  35. Nguyễn Thị Huỳnh T26, sinh ngày 02/9/1994, ngụ xóm B, xã N, TP V, tỉnh Nghệ An. ngày 28/10/2021 chuyển 100.000 đồng.
  36. Phạm Văn V2, sinh ngày 01/01/1990, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Long An, ngày 24/5/2022 chuyển 300.000 đồng.
  37. Châu Ngọc T15, sinh ngày 26/3/1997, ngụ Thôn B, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, ngày 10/10/2022 chuyển 400.000 đồng.
  38. Trần Ngọc Mai T16, sinh năm 1990, ngụ 21/10, đường T, Phường A, TP Đ, tỉnh Lâm Đồng, ngày 11/10/2022 chuyển 200.000 đồng.
  39. Nguyễn Thị Hà M3, sinh năm 1987, ngụ hẻm G, đường H, phường I, TP Đ, tỉnh Lâm Đồng, ngày 12/10/2022 chuyển 300.000 đồng.
  40. Nguyễn Hữu N6, sinh ngày 25/11/1992, ngụ hẻm A M, phường I, TP Đ, tỉnh Lâm Đồng chuyển 500.000 đồng.
  41. Nguyễn Thị Mộng K, sinh năm 1995, ngụ ấp C, xã T, huyện M, Bến Tre, ngày 15/7/2022 chuyển 200.000 đồng
  42. Trần Thị Diễm L5, sinh ngày 10/2/1998, ngụ ấp T, xã T, huyện M, Bến Tre, ngày 13/7/2022 chuyển 200.000 đồng.
  43. Nguyễn Ngọc D1, sinh ngày 14/10/1997, ngụ số nhà D, khu phố B, phường F, TP B, ngày 14/7/2022 chuyển 200.000 đồng.
  44. Phan Thị Cẩm N7, sinh ngày 14/9/1994, ngụ tổ H, ấp B, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre, ngày 18/7/2022 chuyển 200.000 đồng.
  45. Trương Thị T17, sinh năm 1986, ngụ tổ C, ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang, ngày 27/5/2022 chuyển 200.000 đồng.
  46. Huỳnh Thị Tú O1, sinh năm 1986, ngụ số E, tổ C, khu phố G, phường A, TP T, tỉnh Quảng Nam, ngày 22/10/2021 chuyển 400.000 đồng.
  47. Trần Thị Châu L, sinh ngày 14/12/1989, ngụ tổ Dân Phố T, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, lần 1 ngày 25/2/2022 chuyển 200.000 đồng; lần 2 vào ngày 26/2/2022 chuyển 300.000 đồng.
  48. Huỳnh Thị Mỹ L1, sinh ngày 10/4/1988, ngụ thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, ngày 08/10/2022 chuyển 100.000 đồng.
  49. Lê Thanh Trúc C, sinh ngày 05/12/1996 ngụ số A, ấp P, xã T, TP M, tỉnh Tiền Giang, ngày 18/10/2021 chuyển 300.000 đồng.
  50. Nguyễn Thị Thúy K1, sinh ngày 04/10/1997, ngụ số F tổ C, khu phố B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang, ngày 22/8/2022 chuyển 100.000 đồng.
  51. Trần Hà Vĩnh S1, sinh năm 1992, ngụ ấp T, xã T, huyện C, Đồng Tháp, ngày 8/10/2021 chuyển 1.000.000 đồng.
  52. Lê Thị H6, sinh năm 1987, ngụ K, tổ E, phường H, quận L, TP Đà Nẵng, ngày 15/3/2022 chuyển 100.000 đồng.
  53. Nguyễn Thị H7, sinh ngày 20/12/1968, ngụ số K, đường H, tổ A, phường B, quận H, TP Đà Nẵng, ngày 17/3/2022 chuyển 200.000 đồng.
  54. Trần Thị Ánh T18, sinh ngày 04/5/1981, ngụ số F, đường N, tổ dân phố E, phường T, quận S, TP Đà Nẵng, ngày 17/03/2022 chuyển 114.991 đồng.
  55. Dương Thị H8, sinh năm 1969, ngụ K, tổ C, phường A, Quận S, TP Đà Nẵng, ngày 16/3/2022 chuyển 500.000 đồng.
  56. Đặng Thị Kim C2, ngụ 1 đường B, quận H, thành phố Đà Nẵng, tỉnh Đà Nẵng, ngày 17/3/2022 chuyển 500.000 đồng.
  57. Trần Viết T19, ngày năm 1976, ngụ số B, DC7, tổ E, khu phố C, phường S, quận T, TP HCM, ngày 16/10/2022 chuyển 500.000đ.
  58. Nguyễn Thị Kim N8, ngày sinh 17/8/1991, ngụ C, đường L, tổ I, KH5, phường B, quận B, TP ., ngày 14/10/2021 chuyển 500.000 đồng.
  59. Thái Ngô Thảo T20, sinh ngày 20/4/2004, ngụ số E đường A, tổ Dân Phố G, khu phố F, phường A, quận B, TP Hồ Chí Minh, ngày 14/10/2021 chuyển 1.000.000 đồng.
  60. Tạ Thị Thùy T21, sinh ngày 11/10/1985, ngụ B Đ, tổ D, khu phố C, phường A, Quận B, TP Hồ Chí Minh, ngày 6/11/2021 chuyển 200.000 đồng.
  61. Nguyễn Hữu T2, sinh ngày 01/4/1984, ngụ số B, khu phố C, phường Đ, TP Đ, tỉnh Quảng Trị, ngày 28/3/2021 chuyển 500.000 đồng.
  62. Phạm Thị Hằng L2, sinh năm 1990, ngụ số A, khu phố H, phường A, TP Đ, tỉnh Quảng trị, ngày 28/3/2021 chuyển 200.000 đồng.
  63. Lê Thị Thanh N, sinh ngày 25/12/1992, ngụ khu phố A, thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị, ngày 28/3/2021 chuyển 500.000 đồng.
  64. Nguyễn Thị Thu T22, sinh năm 1991, ngụ số A, phường K, TP B, tỉnh Đắk Lắk, ngày 02/03/2022 chuyển 300.000đ.
  65. Huỳnh Thị Thúy H2, sinh năm 1988, ngụ ấp T, xã T, TP C, Đồng Tháp, ngày 28/11/2022 chuyển 2.500.000 đồng.
  66. Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1991, ngụ ấp B, xã N, Huyện C, tỉnh Đồng Tháp, ngày 24/11/2022 chuyển 3.000.000 đồng; Lần 2 ngày 28/11/2022 chuyển 200.000 đồng.
  67. Trần Hồ Toại N9, ngày năm 1983, ngụ tổ E, phường Q, TP Q, tỉnh Bình Định, ngày 13/9/2021 chuyển 2.000.000 đồng.
  68. Nguyễn Thị Mỹ D2, sinh ngày 09/9/1973, ngụ N, đường T, khóm F, phường D, TP V, tỉnh Vĩnh Long, ngày 08/10/2021 chuyển 3.000.000 đồng.
  69. Phạm Xuân D3, sinh ngày 30/10/1971, ngụ TDP D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang, ngày 13/12/2021 chuyển 2.000.000 đồng.
  70. Đỗ Văn T23, sinh ngày 29/8/1982, ngụ tổ Dân Phố C, T, huyện A, TP Hải Phòng, ngày 29/3/2022 chuyển 2.500.000 đồng.
  71. Phạm Thị H9, sinh năm 1989, ngụ Thôn Q, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang, ngày 04/3/2022 chuyển 2.000.000 đồng.
  72. Nguyễn Thanh T24, sinh ngày 12/8/1991, ngụ Đ, thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, ngày 29/3/2022 chuyển 2.000.000 đồng.
  73. Đoàn Thị Lệ H10, sinh năn 1987, ngụ số C ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre, ngày 19/5/2022 chuyển 2.000.000 đồng.
  74. Trương Công Â, sinh năm 1967, ngụ thôn H, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, ngày 27/3/2022 chuyển 2.500.000 đồng.
  75. Nguyễn Thị Phương T1, sinh ngày 10/10/1985, ngụ tổ A, khu phố H, TT L, huyện L, tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu, ngày 24/8/2022 chuyển 2.000.000 đồng.
  76. Huỳnh Thái C3, sinh năn 1995, ngụ tổ A, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long, ngày 17/5/2022 chuyển 2.000.000 đồng.
  77. Dương Hương L6, sinh năm 1981, ngụ tổ dân phố số A, phường P, Q, TP Hà Nội, ngày 16/9/2022 chuyển 5.000.000 đồng.
  78. Nguyễn Thị Minh H11, ngày sinh 10/9/1984, ngụ P711 nhà E Khu Đ, phường Y, Quận C, TP Hà Nội, ngày 14/02/2022 chuyển 6.600.000 đồng.
  79. Nguyễn Thanh B2, sinh ngày 20/7/1998, ngụ D, đường N, phường D, TP Đ, tỉnh Lâm Đồng, ngày 10/3/2022 chuyển 1.500.000 đồng; Lần 2 ngày 16/3/2022 chuyển 500.000 đồng.
  80. Danh Minh P1, ngày sinh 14/10/1987 ngụ ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang, ngày 12/01/2022 chuyển 2.000.000 đồng.

Như vậy, trong 80 người bị hại nêu trên có 82 lượt chuyển tiền, bị cáo H đã chiếm đoạt số tiền 64.864.991 đồng. Nhưng chỉ có 10 người yêu cầu bị can H bồi thường số tiền 12.300.000 đồng gồm:

  1. Trương Công Â, ngày sinh 20/01/1967 ngụ thôn H, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế số tiền 2.500.000 đồng.
  2. Nguyễn Thị Phương T1, ngày sinh 10/10/1985 ngụ tổ A, khu phố H, TT L, huyện L, tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu số tiền 2.000.000 đồng.
  3. Lê Thanh Trúc C, sinh ngày 05/12/1996 ngụ số 1402 ấp P, xã T, TP M, tỉnh Tiền Giang số tiền 300.000 đồng.
  4. Trần Thị Châu L, sinh ngày 14/12/1989, ngụ tổ Dân Phố T, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa số tiền 500.000 đồng.
  5. Huỳnh Thị Mỹ L1, sinh ngày 10/4/1988, ngụ thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa số tiền 100.000 đồng.
  6. Nguyễn Hữu T2, sinh ngày 01/4/1984, ngụ số B, đường N, khu phố C, phường Đ, TP Đ, tỉnh Quảng Trị số tiền 500.000 đồng.
  7. Phạm Thị Hằng L2, sinh ngày 19/9/1990, ngụ số A, khu phố H, phường A, TP Đ, tỉnh Quảng Trị số tiền 200.000 đồng.
  8. Lê Thị Thanh N, sinh ngày 25/12/1992, ngụ khu phố A, thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị số tiền 500.000 đồng.
  9. Nguyễn Ngọc M, sinh năm- 1991 ngụ ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp số tiền 3.200.000 đồng.
  10. Huỳnh Thị Thúy H2, sinh năm- 1988 ngụ ấp T, xã T, thành phố C số tiền 2.500.000 đồng.

Số người bị hại còn lại 5.476 với 5.480 lượt chuyển tiền 1.170.946.451 đồng.

Trong quá trình điều tra, do các bị hại không có địa chỉ rõ ràng hoặc không có mặt ở địa phương. Cơ quan điều tra đã Ủy thác điều tra mời làm việc ghi lời khai nhưng không được. Cơ quan điều tra đã lập biên bản xác minh và đã 03 lần ra Thông báo truy tìm người bị hại trên các phương tiện truyền thông, thông tin đại chúng như Đài truyền hình, B3, báo Công an nhân dân theo đúng quy định nhưng kết quả không có bị hại nào đến Cơ quan điều tra trình báo, yêu cầu giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Trong số 5.556 người bị hại trên 36 tỉnh, thành mà H đã chiếm đoạt tổng số tiền 1.235.811.442 đồng. Trong đó có 10 người bị hại yêu cầu H trả lại số tiền bị H chiếm đoạt 12.300.000 đồng, còn lại 5.546 người bị hại với số tiền 1.223.511.442 đồng. Do quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp theo pháp luật quy định nhưng các bị hại này đều không trình báo và không yêu cầu giải quyết. Xét thấy đây là số tiền do bị can H phạm tội mà có, đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả lại tiền cho 02 bị hại trong lúc bắt quả tang Nguyễn Ngọc M 3.200.000 đồng. Bị hại Huỳnh Thị Thúy H2 2.500.000 đồng, tổng số tiền 02 bị hại 5.700.000 đồng. Như vậy còn lại 08 người bị hại tiếp tục yêu cầu H trả số tiền 6.600.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Tiếp tục quản lý số tài sản do H dùng tiền chiếm đoạt mua để đảm bảo thi hành án.

  • - Tịch thu sung vào công quỹ các phương tiện H dùng vào việc phạm tội. gồm: 01 (một) ĐTDĐ hiệu Oppo Reno6Z màu đen số IMEI 1-868311056351218, số IMEI 2-868311056351200, số thuê bao sim 1-0797.686.774, sim 2- 0762.923.609 trị giá 733.000 đồng.
  • + 01 (một) thẻ ATM mang tên Đỗ Minh H số tài khoản 070067108890.
  • - Trả lại tài sản cho H, do trong quá trình điều tra H khai nhận những tài sản này là của cá nhân Hậu mua trước khi thực hiện hành vi phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị hại và Cơ quan điều tra không có tài liệu chứng minh H dùng vào việc phạm tội gồm:
  • + 01 (một) xe Honda SH màu trắng, mang biển kiểm soát: 66P2-28.670 trị giá 66.000.000 đồng và 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe biển kiểm soát 66P2-28670.
  • + 01 (một) xe Vespa Sprint 150 màu đen, mang biển kiểm soát số 66P2-41.122 trị giá 53.000.000 đồng và 01 (một) Giấy đăng ký xe biển kiểm soát số 66P2-41.122.
  • 01 (một) ĐTDĐ hiệu Nokia màu đen (mã số nhận dạng thiết bị di động quốc tế) có số IMEI 1- 356819638723422, số IMEI 2- 356819638723421, số thuê bao sim 1- 0763.207.529, sim 2- 0907.152.734 trị giá 200.000 đồng.
  • 01 (một) ĐTDĐ hiệu Oppo A52 màu đen có số IMEI 1-860354045433117, số IMEI 2-860354045433109, số thuê bao 0778.192.500 trị giá 733.000 đồng.
  • + 01 (một) ĐTDĐ Iphone 13 promax màu xanh trị giá 15.000.000 đồng.
  • + 01 (một) sợi dây chuyền kiểu vây cá có hàm lượng kim loại vàng 59,1%, có khối lượng 31,036 gam trị giá 26.559.616 đồng.
  • + 01 (một) sợi dây chuyền kiểu khoen lật có chứa hàm lượng kim loại vàng 59,7%, có khối lượng 160,767 gam có giá 138.975.998 đồng.

Tại Cáo trạng số 35/CT-VKSĐT- P2 ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Đỗ Minh H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Minh H từ 13 năm đến 15 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự. Đề nghị Toà tuyên phạt tiền đối với bị cáo H từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng, đề nghị xem xét theo phần Quyết định của Cáo trạng đã nêu.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Đỗ Minh H phát biểu quan điểm: Thống nhất với vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản của tội danh áp dụng đối với bị cáo. Vị luật sư viện dẫn, phân tích về nguyên nhân, điều kiện, ý thức, phạm tội của bị cáo đồng thời nêu ra các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã tác động gia đình bồi thường xong cho 08 người bị hại có yêu cầu; số tiền chiếm đoạt của các bị hại, bị cáo đã mua sắm tài sản và tiền mặt còn lại, cơ quan điều tra đã thu giữ đủ để khắc phục cho các bị hại. Bị cáo chiếm đoạt tài sản nhiều lần và mỗi lần với số tiền nhỏ, tuỳ lòng hảo tâm của bị hại. Ngoài ra, bị cáo thuộc tuýp người đồng tính nên về mặc tâm sinh lý cũng có phần khác với người thường. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về hình phạt bổ sung, Viện kiểm sát đề nghị như trên là có phần nghiêm khắc, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.

Tại phần tranh luận, bị cáo Đỗ Minh H xin xem xét lại phần tội danh, bị cáo cho rằng bị cáo lừa đảo nhưng nhỏ lẻ, từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng là nhiều, việc cộng dồn lại các lần thành số tiền để định khung khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là bất lợi cho bị cáo. Bị cáo không bào chữa bổ sung mà chỉ thừa nhận hành vi của bị cáo là sai, bị cáo rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Từ khi khởi tố vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Đối với các bị hại và những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy người này đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Trong quá trình điều tra đã có lời khai rõ ràng và sự vắng mặt của người này không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, căn cứ các Điều 292 và 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[3] Xét nội dung vụ án: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Đỗ Minh H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Từ tháng 9/2021 đến tháng 11/2022, H đã dùng thủ đoạn gian dối đưa lên mạng xã hội Facebook thông tin không có thật nhằm để tạo niềm tin cho nhiều người biết tưởng hoàn cảnh khó khăn của H là có thật để họ chuyển tiền cho H chiếm đoạt 1.235.811.442 đồng của 5.556 người bị hại trên 36 tỉnh thành. Trong 5.556 người bị hại thì đã có 31 bị hại chuyển tiền cho H từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Đến ngày 28/11/2022, H đang rút tiền chiếm đoạt của người bị hại thì bị bắt quả tang.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Đỗ Minh H đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc tòan bộ tài sản.”

[4] Bị cáo là người đã trưởng thành, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt tài tài sản của người khác là vi phạm phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi, muốn nhanh chóng có được nhiều tiền để tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối bằng cách đưa lên mạng xã hội Facebook thông tin không có thật nhằm để tạo niềm tin cho nhiều người biết, lầm tưởng hoàn cảnh khó khăn của H là có thật để họ chuyển tiền cho H chiếm đoạt số tiền 1.235.811.442 đồng.

[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của nhiều bị hại một cách trái pháp luật, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, bằng thủ đoạn gian dối bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của rất nhiều người bị hại với số tiền lớn, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây xôn xao dư luận, bức xúc trong quần chúng nhân dân. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo thể hiện sự quyết tâm cao, cố ý và mong muốn đạt được mục đích, thể hiện rõ nhất là việc bị cáo đã kèm theo bài viết hình ảnh của một em bé bị bỏng trên gương mặt và người cha đang chăm sóc con trong bệnh viện do bị cáo tải bài đăng trên mạng về để tạo niềm tin cho nội dung bài viết tăng thêm lượt cho nhiều người vào xem tin tưởng nội dung trên do bị cáo đăng là có thật. Khi thực hiện hành vi, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, là có tội nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Chứng tỏ hành vi của bị cáo là cố ý trực tiếp và tội phạm đã hoàn thành. Đối với bị cáo cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Do bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà trong đó có những lần chiếm đoạt từ 02 triệu đồng trở lên nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã tác động gia đình bồi thường xong cho 08 người bị hại có yêu cầu; số tiền chiếm đoạt của các bị hại, cơ quan điều tra đã thu giữ đủ để khắc phục cho các bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 174 Bội luật hình sự. Phạt bị cáo một khoản tiền sung vào ngân sách Nhà nước.

[8] Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản của tội danh, mức hình phạt chính cũng như đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Đối với ý kiến của luật sư bào chữa cho bị cáo là cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra các bị hại yêu cầu bị cáo Đỗ Minh H trả lại số tiền bị H chiếm đoạt là 12.300.000 đồng. Cụ thể: Trương Công  số tiền 2.500.000 đồng; Nguyễn Thị Phương T1 số tiền 2.000.000 đồng; Lê Thanh T27 Chi số tiền 300.000 đồng; Trần Thị Châu L số tiền 500.000 đồng; Huỳnh Thị Mỹ L1 số tiền 100.000 đồng; Nguyễn Hữu T2, số tiền 500.000 đồng; Phạm Thị Hằng L2 số tiền 200.000 đồng; Lê Thị Thanh N số tiền 500.000 đồng; Nguyễn Ngọc M số tiền 3.200.000 đồng; Huỳnh Thị Thúy H2 số tiền 2.500.000 đồng. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả lại tiền cho 02 bị hại trong lúc bắt quả tang Nguyễn Ngọc M 3.200.000 đồng; Huỳnh Thị Thúy H2 2.500.000 đồng, tổng số tiền 02 bị hại 5.700.000 đồng. Như vậy còn lại 08 người bị hại tiếp tục yêu cầu H trả số tiền 6.600.000 đồng. Trong đó, Trương Công  số tiền 2.500.000 đồng; Nguyễn Thị Phương T1 số tiền 2.000.000 đồng; Lê Thanh T27 Chi số tiền 300.000 đồng; Trần Thị Châu L số tiền 500.000 đồng; Huỳnh Thị Mỹ L1 số tiền 100.000 đồng; Nguyễn Hữu T2, số tiền 500.000 đồng; Phạm Thị Hằng L2 số tiền 200.000 đồng; Lê Thị Thanh N số tiền 500.000 đồng; Xét yêu cầu của những người bị hại nêu trên là có căn cứ. Bị cáo thống nhất bồi thường theo yêu cầu của các bị hại và đã tác động gia đình đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp nộp khắc phục số tiền chiếm đoạt 6.600.000 đồng cho các bị hại xong theo biên lai thu tiền số 0004477 ngày 31/5/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

Đối với 5.546 người còn lại bị H chiếm đoạt với số tiền 1.223.511.442 đồng. Do quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp theo pháp luật quy định nhưng các bị hại này đều không trình báo và không yêu cầu giải quyết. Xét thấy đây là số tiền do bị cáo H phạm tội mà có, xét thấy cần phải buộc bị cáo nộp lại để tịch thu sung quỹ nhà nước.

[10] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận theo đề nghị của Viện kiểm sát tại quyết định của Cáo trạng và phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm.

[11] Về án phí: Bị cáo Đỗ Minh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Đỗ Minh H 13 (mười ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/11/2022.

  2. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 174 Bội luật hình sự;

    Buộc bị cáo Đỗ Minh H phải nộp 40.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 589 Bộ luật dân sự.

    Buộc bị cáo Đỗ Minh H trả lại cho các bị hại số tiền 6.600.000 đồng. Cụ thể: Trương Công  số tiền 2.500.000 đồng; Nguyễn Thị Phương T1 số tiền 2.000.000 đồng; Lê Thanh T27 Chi số tiền 300.000 đồng; Trần Thị Châu L số tiền 500.000 đồng; Huỳnh Thị Mỹ L1 số tiền 100.000 đồng; Nguyễn Hữu T2, số tiền 500.000 đồng; Phạm Thị Hằng L2 số tiền 200.000 đồng; Lê Thị Thanh N số tiền 500.000 đồng; Bà Nguyễn Thị T là mẹ ruột của bị cáo H đã nộp khắc phục thay cho bị cáo xong theo biên lai thu tiền số 0004477 ngày 31/5/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

    Buộc bị cáo nộp lại số tiền 1.223.511.442 đồng (Một tỷ hai trăm hai mươi ba triệu năm trăm mười một nghìn bốn trăm bốn mươi hai đồng) sung vào ngân sách nhà nước.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền nêu trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chưa thi hành án cho đến khi thi hành án xong.

  4. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Đối với số tiền 1.223.511.442 đồng, H chiếm đoạt của 5.546 người bị hại còn lại do không có trình báo và yêu cầu giải quyết mặc dù Cơ quan điều tra đã áp dụng đầy đủ các quy định của pháp luật vì vậy đề nghị Tòa án tịch thu sung quỹ nhà nước.

    Tiếp tục quản lý tài sản thu giữ của bị cáo Đỗ Minh H để đảm bảo thi hành án gồm:

    • - 01 (một) vòng đeo tay bằng kim loại màu vàng, có 13 hạt bi màu vàng, 02 hạt bị màu đỏ-vàng và 02 hình đầu cọp có chứa thành phần kim loại vàng, hàm lượng vàng 99,3%, có khối lượng 24,212 gam trị giá 34.813.563 đồng.
    • - 01 (một) nhẫn có hình đầu rồng có chứa hàm lượng kim loại vàng 57,7%, có khối lượng 20,979 gam trị giá 17.527.871 đồng.
    • - 01 (một) nhẫn có hình đầu rồng có chứa hàm lượng kim loại vàng 59,3%, có khối lượng 19,813 gam trị giá 17.012.710 đồng.
    • - 01 (một) nhẫn có hình đầu rồng đính hột màu đỏ, có chứa hàm lượng kim loại vàng 59,6%, có khối lượng 19,216 gam trị giá 16.583.562 đồng.
    • - 01 (một) chiếc nhẫn có mặt hình con ngựa, đính hột màu tím, có chứa hàm lượng kim loại vàng 59,1%, có khối lượng 15,515 gam trị giá 13.277.241 đồng.
    • - 01 (một) nhẫn mặt vuông có chứa hàm lượng kim loại vàng 59,4%, có khối lượng 11,941 gam trị giá 10.270.597 đồng.
    • - 01 (một) nhẫn mặt vuông đính đá màu trắng, chứa hàm lượng kim loại vàng 58,8%, có khối lượng 7,309 gam trị giá 6.223.058 đồng.
    • - 01 (một) nhẫn trơn có chứa hàm lượng kim loại vàng 99,4%, có khối lượng 18,751 gam trị giá 26.988.539 đồng.
    • - 01 (một) nhẫn trơn có chứa hàm lượng kim loại vàng 99,4%, có khối lượng 18,764 gam trị giá 27.007.250 đồng.
    • - 01 (một) nhẫn kiểu có hoa văn bên ngoài, có chứa hàm lượng kim loại vàng 60,2%, có khối lượng 6,838 gam trị giá 5.960.657 đồng.
    • - 01 (một) nhẫn có chứa hàm lượng kim loại vàng 59,1%, có khối lượng 1,933 gam trị giá 1.654.200 đồng.
    • - 01 (một) nhẫn có chứa hàm lượng kim loại vàng 59,4%, có khối lượng 1,540 gam trị giá 1.324.572 đồng.
    • - 01 (một) tấm lắc đeo tay có chứa hàm lượng kim loại vàng 97,9%, có khối lượng 332,180 gam trị giá 470.895.711 đồng. Tổng trị giá 649.539.530 đồng.

    Các vật chứng, tài sản nêu trên hiện Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/01/2024: 01 (một) gói niêm phong có đóng dấu đỏ của Phòng C5 Công an tỉnh Đ, có chữ ký ghi họ tên Đỗ Minh H và chữ ký ghi họ tên Điều tra viên Nguyễn Quang M5 (niêm phong nữ trang bằng kim loại màu vàng).

    Tiền Việt Nam đồng: 691.800.000 đồng.

    Vật chứng, tài sản nêu trên hiện Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/01/2024: 01 (một) gói niêm phong có đóng dấu đỏ của Phòng C5 Công an tỉnh Đ, có chữ ký ghi họ tên Đỗ Minh H và chữ ký ghi họ tên Điều tra viên Nguyễn Quang M5 (niêm phong tiền Việt Nam đồng).

    Tịch thu tài sản phương tiện do bị cáo Đỗ Minh H dùng vào việc phạm tội:

    • - 01 (một) ĐTDĐ hiệu Oppo Reno6Z màu đen số IMEI 1-868311056351218, số IMEI 2-868311056351200, số thuê bao sim 1-0797.686.774, sim 2-0762.923.609 (Đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong, không kiểm tra số IMEI và không kiểm tra số sim).
    • - 01 (một) thẻ ATM mang tên Đỗ Minh H số tài khoản 070067108890.

    Trả lại cho bị cáo Đỗ Minh H những tài sản mà cá nhân Hậu mua trước khi H thực hiện hành vi phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị hại gồm:

    • - 01 (một) sợi dây chuyền kiểu vây cá có hàm lượng kim loại vàng 59,1%, có khối lượng 31,036 gam trị giá 26.559.616 đồng.
    • - 01 (một) sợi dây chuyền kiểu khoen lật có chứa hàm lượng kim loại vàng 59,7%, có khối lượng 160,767 gam có giá 138.977.998 đồng.

    Các vật chứng, tài sản nêu trên hiện Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/01/2024:

    • 01 (một) gói niêm phong có đóng dấu đỏ của Phòng C5 Công an tỉnh Đ, có chữ ký ghi họ tên Đỗ Minh H và chữ ký ghi họ tên Điều tra viên Nguyễn Quang M5 (niêm phong nữ trang bằng kim loại màu vàng).
    • 01 (một) xe Honda SH màu trắng, mang biển kiểm soát: 66P2-28.670 và 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe biển kiểm soát 66P2-28670 (Đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong).
    • 01 (một) xe Vespa Sprint 150 màu đen, mang biển kiểm soát số 66P2-41.122 và 01 (một) Giấy đăng ký xe biển kiểm soát số 66P2-41122 (Đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong).
    • 01 (một) ĐTDĐ hiệu Nokia màu đen (mã số nhận dạng thiết bị di động quốc tế) có số IMEI 1-356819638723422, số IMEI 2-356819638723421, số thuê bao sim 1-0763.207.529, sim 2-0907.152.734 trị giá 200.000 đồng (Đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong, không kiểm tra số IMEI và không kiểm tra số sim).
    • 01 (một) ĐTDĐ hiệu Oppo A52 màu đen có số IMEI 1-860354045433117, số IMEI 2-860354045433109, số thuê bao 0778.192.500 (Đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong, không kiểm tra số IMEI và không kiểm tra số thuê bao).
    • 01 (một) ĐTDĐ Iphone 13 promax màu xanh (Đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong.

    (Các vật chứng nêu trên hiện Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp đang quản lý).

    Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD hỏi cung Đỗ Minh H.

  5. Buộc bị cáo Đỗ Minh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết đúng quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.HCM;
  • - VKSNDCC tại TP.HCM;
  • - Ban Nội chính Tỉnh ủy ĐT;
  • - VKSND tỉnh ĐT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh ĐT;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh ĐT;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh ĐT;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh ĐT;
  • - CQ Cảnh sát điều tra CA tỉnh ĐT;
  • - Phòng nghiệp vụ hồ sơ CA tỉnh ĐT;
  • - Phòng KTNV - THATA tỉnh ĐT;
  • - BC, BH, NLQ, NBC;
  • - Lưu: HSVA, VT (Châu).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Khắc Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 46/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger