TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2024/DS-ST Ngày: 04-6-2024 “V/v tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Thành Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Vạn Thế.
- Bà Trần Thị Kim Phượng.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Kiều - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Nguyễn trọng Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại Phòng xử án Toà án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 208/2023/TLST-DS ngày 26/3/2023 về việc “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2024/QĐXXST-DS ngày 19/4/2024, giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần () Việt Nam T (V); Địa chỉ: Số H, L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D; Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền của ông D: Ông Hoàng Anh T; Chức vụ: Giám đốc Trung tâm X; Ông Đỗ Thành T1; Chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm X; Địa chỉ liên hệ: Tầng B, số B, đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (Theo văn bản ủy quyền ngày 07/7/2020).
Người đại diện theo ủy quyền của ông T1: Anh Lê Thanh N và anh Nguyễn Tấn S; Chức vụ: Cán bộ xử lý nợ V. Địa chỉ: Tầng B, số B, đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (Theo văn bản uỷ quyền ngày 20/02/2024). (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Đặng Thanh G, sinh năm 1975; Địa chỉ: Số C, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh Lê Thanh N trình bày:
Vào ngày 22/6/2018, Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A với ông Đặng Thanh G ký kết Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xem ô tô số LN1806180740145/AGG/HĐTC. Theo thoả thuận trong hợp đồng, Ngân hàng cho ông G vay số tiền 258.000.000 đồng, thời hạn vay là 84 tháng kể từ ngày 22/6/2018 đến 22/6/2025, mục đích vay để mua 01 chiếc xe ô tô con 05 chỗ, nhãn hiệu Kia Morning ST MT, mới 100% để ông G sử dụng. Lãi suất thả nổi, lãi suất thoả thuận tại thời điểm giải ngân là 78,9%/năm, lãi suất điều chỉnh 03 tháng/lần và biên độ giao động là 5%/năm. Ông G phải trả tiền nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng theo định kỳ hàng tháng vào ngày 19 và kỳ trả nợ đầu tiên là ngày 19/7/2018. Để đảm bảo cho khoản vay, ông G có thế chấp chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia, biển số 66A-068.84, số khung RNYTB51M5JC128428, số máy G4LAJP027536, do ông G đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô.
Nay Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông G phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A tổng số nợ còn nợ tạm tính đến ngày 10/02/2023 là 325.238.201 đồng. Trong đó, gồm vốn gốc là 197.186.281 đồng và tiền lãi là 128.051.929 đồng. Trong đó, lãi suất trong hạn là 85.367.953 đồng và lãi suất quá hạn là 40.560.937 đồng. Ngoài ra, kể từ ngày 11/02/2023, ông G vẫn tiếp tục chịu lãi quá hạn theo thỏa thuận hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A.
Trường hợp ông G không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp.
Tiếp tục duy trì Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp số LN1806180740145/AGG/HĐTC ngày 22/6/2018 được Trung tâm đăng ký giao dịch bảo đảm tại Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận ngày 22/6/2018 cho đến khi ông G thanh toán xong các khoản nợ gồm nợ gốc, nợ lãi và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A.
Tuy nhiên, đến ngày 15/4/2024, Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A có đơn đề nghị rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu: Trường hợp ông G không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp.
Đối với bị đơn Đặng Thanh G: Ông G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có người đại diện tham gia phiên họp. Đồng thời, cũng không có văn bản ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không có yêu cầu phản tố.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Tuy nhiên, việc tuân theo pháp luật tố tụng của bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã không chấp hành sự triệu tập của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Qua tranh tụng tại phiên tòa và trên cơ sở phân tích, đánh giá chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A. Buộc ông G có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A số tiền nợ gốc là 197.186.281 đồng và nợ lãi tính đến ngày 04/6/2024 gồm tiền lãi trong hạn là 121.124.398 đồng, tiền lãi quá hạn là 60.562.199 đồng và ông G còn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký, kể từ ngày 05/6/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Xét thấy, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và bị đơn Đặng Thanh G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tiến hành xét xử nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về chứng cứ: Xét thấy, nguyên đơn và bị đơn đều không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và không đề nghị Tòa án xác minh, lấy lời khai của người làm chứng cũng như không đề nghị triệu tập thêm ai đến phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xét xử vụ án.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ vào nội dung thoả thuận trong Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1806180740145/AGG/HĐTC ngày 22/6/2018 giữa Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A với ông Đặng Thanh G, thì đến ngày 10/02/2023 ông G còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là 197.186.281 đồng và nợ lãi là 128.051.929 đồng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo hợp đồng đã ký kết. Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A yêu cầu ông G trả số tiền còn nợ bao gồm nợ gốc và nợ lãi là thực hiện đúng quyền của bên cho vay. Ông G phải có nghĩa vụ trả tiền còn nợ cho Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A là phù hợp nghĩa vụ của bên vay trong hợp đồng và quy định pháp luật. Tính đến thời điểm xét xử là ngày 04/6/2024, ông G còn nợ Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A số tiền gồm tiền nợ gốc là 197.186.281 đồng, tiền lãi trong hạn là 121.124.398 đồng và tiền lãi quá hạn là 60.562.199 đồng.
[4] Đối với tiền lãi quá hạn phát sinh: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 91 và khoản 2 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng có đủ cơ sở để buộc ông G phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A khoản tiền lãi nợ quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này kể từ ngày 05/6/2024.
[5] Về yêu cầu của nguyên đơn về xử lý tài sản thế chấp: Căn cứ Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1806180740145/AGG/HĐTC ngày 22/6/2018 giữa Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A với ông G, thì để đảm bảo cho khoản vay tại Ngân hàng, ông G đã thế chấp chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia, biển số 66A-068.84, số khung RNYTB51M5JC128428, số máy G4LAJP027536, do ông G đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô. Xét thấy, hợp đồng thế chấp tài sản tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật trong quá trình ký kết nên có hiệu lực pháp luật. Ngày 15/4/2024, Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A có đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với trường hợp ông G không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ việc xét xử đối với yêu cầu nêu trên theo quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[6] Từ những phân tích nêu trên cho thấy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A và phát biểu về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu về việc xử lý tài sản thế chấp là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí và tạm ứng án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, thì: “Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận”. Theo đó, do yêu cầu của nguyên đơn được Toà án chấp nhận nên bị đơn ông G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 18.943.600 đồng. Nguyên đơn Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A không phải chịu án phí nên được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.131.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0003618 ngày 20/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò.
[8] Về quyền kháng cáo: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A là anh Lê Thanh N và bị đơn Đặng Thanh G đều vắng mặt tại phiên tòa, nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự được quy định tại các điều 271, 272 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 5 và khoản 25 Điều 70, khoản 1 và khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 95, Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 357, 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự;
Áp dụng khoản 2 Điều 91 và khoản 2 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng;
Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A.
- Buộc ông Đặng Thanh G có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A số tiền nợ gốc là 197.186.281 đồng và số tiền nợ lãi tính đến ngày 04/6/2024, trong đó nợ lãi trong hạn là 121.124.398 đồng, nợ lãi quá hạn là 60.562.199 đồng. Tổng cộng nợ gốc và nợ lãi là 378.872.879 đồng (Ba trăm bảy mươi tám triệu, tám trăm bảy mươi hai nghìn, tám trăm bảy mươi chín đồng).
- Kể từ ngày 05/6/2024, ông Đặng Thanh G còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1806180740145/AGG/HĐTC ngày 22/6/2018 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
- Công nhận Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp số LN1806180740145/AGG/HĐTC ngày 22/6/2018 giữa Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A với ông Đặng Thanh G.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A đối với yêu cầu trường hợp ông G không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp.
- Về án phí và tạm ứng án phí:
- - Ông Đặng Thanh G phải chịu 18.943.600 đồng (Mười tám triệu, chín trăm bốn mươi ba nghìn, sáu trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- - Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A số tiền 8.131.000 đồng (Tám triệu, một trăm ba mươi mốt nghìn đồng) mà Ngân hàng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003618 ngày 20/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
- Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A và ông Đặng Thanh G có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thành Nhân |
Bản án số 42/2024/DS-ST ngày 04/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 42/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông G phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A tổng số nợ còn nợ tạm tính đến ngày 10/02/2023 là 325.238.201 đồng. Trong đó, gồm vốn gốc là 197.186.281 đồng và tiền lãi là 128.051.929 đồng. Trong đó, lãi suất trong hạn là 85.367.953 đồng và lãi suất quá hạn là 40.560.937 đồng. Ngoài ra, kể từ ngày 11/02/2023, ông G vẫn tiếp tục chịu lãi quá hạn theo thỏa thuận hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A. Trường hợp ông G không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp. Tiếp tục duy trì Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp số LN1806180740145/AGG/HĐTC ngày 22/6/2018 được Trung tâm đăng ký giao dịch bảo đảm tại Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận ngày 22/6/2018 cho đến khi ông G thanh toán xong các khoản nợ gồm nợ gốc, nợ lãi và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A. Tuy nhiên, đến ngày 15/4/2024, Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A có đơn đề nghị rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu: Trường hợp ông G không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh A có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp.
