Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỒNG PHÚ

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 46/2024/HS-ST

Ngày: 03-6-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Nguyên Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Tư

Ông Nguyễn Viết Xứng

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phương Tình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2024/HSST-QĐ ngày 20/5/2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đào Tạ C, sinh năm 1991; tại tỉnh Thanh Hoá; Nơi cư trú: khu phố G, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: như trên; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Tạ M, sinh năm 1964 và bà Vũ Thị H (đã chết); có vợ là Cao Thị Thanh T, sinh năm 2003.

Tiền án: ngày 25/5/2022, bị TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2022/HS-ST. Chấp hành xong bản án ngày 24/02/2023 (chưa được xoá án tích).

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/10/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1973; tại tỉnh Tây Ninh; Nơi cư trú: ấp T, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị V (đã chết);

Tiền án: Ngày 24/6/2002, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 194; điểm b, khoản 1, Điều 46 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Thị H1 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong bản án ngày 23/01/2009, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: ngày 08/6/2022, bị Công an huyện P, tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép”. Chấp hành đóng phạt ngày 10/6/2022.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/12/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Song C1, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Nơi cư trú: khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

Nguyễn Văn D, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Nguyễn Văn T2, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp C, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương.

Nguyễn Hoàng H2, sinh năm 1974 (vắng mặt)

Nơi cư trú: xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh.

Cao Thị Thanh T, sinh năm 2003 (có mặt)

Nơi cư trú: ấp A, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

Trần Thị H3, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước.

Nguyễn Đăng T3, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp A, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng giữa tháng 3/2023, Nguyễn Song C1 mở “Tiệm trò chơi bắn cá 10k” tại ấp B, xã T, huyện Đ, C giao lại tiệm trò chơi bắn cá cho Nguyễn Đăng T3, làm quản lý và hưởng lợi 20% trên tổng doanh thu của tiệm trò chơi bắn cá, công việc hàng ngày của T3 là “lên điểm”, “xuống điểm” cho những người đến chơi với hình thức như sau: Người chơi phải bỏ ra số tiền 100.000 đồng thì T3 quy đổi ra được 10.000 điểm gọi là “lên điểm”, khi người chơi thắng hoặc còn điểm mà muốn quy đổi số điểm thành tiền thì T3 mua lại gọi là “xuống điểm” cũng quy đổi 10.000 điểm mua lại với số tiền 100.000 đồng. Thực chất đây là trò chơi điện tử thắng thua trái phép bằng tiền qua hình thức chơi trò chơi bắn cá.

Khoảng 22 giờ ngày 01/4/2023, Nguyễn Hoàng H2; Nguyễn Văn T2; Trần Thị H3; Nguyễn Văn D; Cao Thị Thanh TĐào Tạ C gặp T3 để mua điểm chơi trò chơi bắn cá thắng thua bằng tiền, do đang bận bán bún nên T3 đã nhờ Nguyễn Thị H1, là khách chơi trò chơi bắn cá thường xuyên tại quán “lên điểm”, thu tiền của khách và giải thích quy định cho khách chơi trò chơi bắn cá thì H1 đồng ý. Đến khoảng 23 giờ 30 phút ngày 01/4/2023, Cơ quan Công an xã T kiểm tra hành chính, phát hiện các đối tượng chơi trò chơi bắn cá thắng, thua bằng tiền nên lập biên bản và mời H2, T2, H3, D, T, C, H1, T3 làm việc.

Qua làm việc đã chứng minh được H1 đã thu tiền của 06 đối tượng là 600.000 đồng, số tiền này sử vào mục đích đánh bạc, bao gồm: Nguyễn Hoàng H2 sử dụng số tiền 100.000 đồng; Nguyễn Văn T2 sử dụng số tiền 100.000 đồng; Trần Thị H3 sử dụng số tiền 50.000 đồng; Nguyễn Văn D sử dụng số tiền 50.000 đồng; Cao Thị Thanh T sử dụng số tiền 100.000 đồng và Đào Tạ C sử dụng số tiền 200.000 đồng. Tuy nhiên, do Đào Tạ CNguyễn Thị H1 đã có tiền án, tiền sự về tội “Đánh bạc” nên Công an xã T đã chuyển hồ sơ vụ việc cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, các bị can đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.

Việc tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:

Cơ quan điều tra thu giữ:

- Thu giữ tại tiệm bắn cá:

  • + 03 (ba) máy chơi trò chơi bắn cá;
  • + Số tiền 750.000 đồng (trong đó 600.000 đồng tiền của các đối tượng và 150.000 đồng là tiền của Nguyễn Thị H1);

- Thu giữ trên người các đối tượng:

  • + Nguyễn Thị H1: 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVo màu xanh;
  • + Đào Tạ C: 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme và 320.000 đồng;
  • + Cao Thị Thanh T: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 và số tiền 4.465.000 đồng;
  • + Nguyễn Hoàng H2: 11.640.000 đồng;
  • + Nguyễn Văn D: 7.215.000 đồng.

- Thu giữ xung quanh tiệm bắn cá:

  • + 01 (một) xe mô tô biển số 61F1 - 365.43;
  • + 01 (một) xe mô tô biển số 70K4 - 1118;
  • + 01 (một) xe mô tô biển số 76C1 - 196.77.

Tại Bản Cáo trạng số 30/CT-VKSĐP ngày 19 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân (KSND) huyện Đ, tỉnh Bình Phước đã truy tố các bị cáo Đào Tạ C, Nguyễn Thị H1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện KSND huyện Đ, tỉnh Bình Phước giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đào Tạ C, Nguyễn Thị H1 phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt: đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Đào Tạ C từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H1 mức án từ 06 đến 09 tháng tù.

Các vấn đề khác đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định theo quy định pháp luật.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội; không có tranh luận gì, mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng và Người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định nói trên. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng số 30/CT-VKSĐP ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã truy tố .

[3] Xét lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người liên quan về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, vật chứng vụ án đồng thời phù hợp với kết luận của đại diện Viện kiểm sát cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi công khai tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: ngày 01/4/2023, tại ấp E, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Đào Tạ C (chưa được xoá án tích về tội “Đánh bạc”) có hành vi đánh bạc dưới hình thức trò chơi bắn cá thắng thua bằng tiền và Nguyễn Thị H1 chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm về hành vi “Đánh bạc” tiếp tục có hành vi giúp sức cho các đối tượng sử dụng trò chơi bắn cá thắng thua bằng tiền. Tổng số tiền các bị cáo đánh bạc là 600.000 đồng.

Hành vi mà các bị cáo đã thực hiện là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.

Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, các bị cáo biết hành vi đánh bạc dưới hình thức trò chơi bắn cá thắng thua bằng tiền là trái pháp luật và sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Song vì động cơ tư lợi cá nhân, xem thường pháp luật nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã khai nhận ở trên.

[4] Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, các bị cáo nhất thời rủ nhau đánh bạc, không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ, phân công nhiệm vụ từ trước giữa các con bạc và trong quá trình chơi.

Xét vai trò của các bị cáo: đối với bị cáo C là trực tiếp tham gia đánh bạc thắng thua với các đối tượng khác. Vì vậy bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Đối với các bị cáo H1 là người giúp sức đổi điểm cho các đối tượng đến chơi và trực tiếp thu tiền của những người chơi bắn cá thắng thua bằng tiền. Nên cần phải xử phạt mức hình phạt tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.

[5] - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Thị H1 bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm”. Bị cáo C không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo được hưởng tình tiết “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; bị cáo H1 có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Bị cáo C là lao động chính trong gia đình.

[6] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Đào Tạ C, đều có nhân thân rõ ràng, có nơi cư trú ổn định, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo mà chỉ cần xử phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị H1 phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo.

[7] Kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8] Vật chứng của vụ án:

  • + Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVo màu xanh, 01 xe mô tô biển kiểm soát 76C1 – 196.77 và số tiền 150.000 đồng thu của bị cáo H1 đây là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.
  • + Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, 01 xe mô tô biển kiểm soát 61F1 – 365.43 và số tiền 320.000 đồng thu của bị cáo C đây là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo;
  • + Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 và số tiền 4.465.000 đồng thu của Cao Thị Thanh T không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho chị T;
  • + Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 70K4 – 1118 và số tiền 11.640.000 đồng thu của Nguyễn Hoàng H2 không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho ông H2;
  • + Đối với số tiền 7.215.000 đồng thu của Nguyễn Văn D không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho ông H2.

Đối với 03 máy game bắn cá và số tiền 600.000 đồng là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[9] Các vấn đề khác:

Đối với Nguyễn Văn D; Nguyễn Văn T2; Nguyễn Hoàng H2; Cao Thị Thanh T; Trần Thị H3 đã có hành vi đánh bạc cùng Đào Tạ C nhưng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và D, T2, H2, T, H3 chưa có tiền án, tiền sự quy định tại Điều 321, Điều 322 Bộ luật Hình sự nên không cấu thành tội phạm. Cơ quan điều tra đã xử phạt vi phạm hành chính nên Viện kiểm sát không đề cập đến việc xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Nguyễn Đăng T3 đã có hành vi dùng nhà, chỗ ở, phương tiện, địa điểm khác của mình hoặc do mình quản lý để chứa chấp đánh bạc nhưng T3 chưa có tiền án, tiền sự quy định tại Điều 321, Điều 322 Bộ luật Hình sự nên không cấu thành tội phạm. Cơ quan điều tra đã xử phạt vi phạm hành chính nên Viện kiểm sát không đề cập đến việc xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Nguyễn Song C1 đã có hành vi đặt máy đánh bạc, trò chơi điện tử trái phép. Về nhân thân: Ngày 27/7/2018, Tòa án tỉnh Bình Phước xử phạt Nguyễn Xong C2 04 tháng tù giam về tội “Đánh bạc” theo bản án số 46/2018/HSPT đã được xóa án tích và C2 chưa có tiền án, tiền sự quy định tại Điều 321, Điều 322 Bộ luật Hình sự nên không cấu thành tội phạm. Cơ quan điều tra đã xử phạt vi phạm hành chính nên Viện kiểm sát không đề cập đến việc xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố các bị cáo Đào Tạ C, Nguyễn Thị H1 phạm tội “Đánh bạc”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Đào Tạ C 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng

Áp dụng điểm khoản 1 Điều 321; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H1 06 (Sáu) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án phạt tù.

3. Vật chứng vụ án: áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 106 Bộ luật TTHS,:

Trả lại cho bị cáo Đào Tạ C 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme; số tiền 320.000 đồng và 01 xe mô tô biển số 61F1 - 365.43.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị H1 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVo màu xanh; số tiền 150.000 đồng và 01 xe mô tô biển số 76C1 - 196.77.

Trả lại cho Cao Thị Thanh T: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 và số tiền 4.465.000 đồng.

Trả lại cho Nguyễn Hoàng H2 số tiền 11.640.000 đồng và 01 (một) xe mô tô biển số 70K4 – 1118.

Trả lại cho Nguyễn Văn D số tiền 7.215.000 đồng

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 03 (ba) máy chơi trò chơi bắn cá và 600.000 đồng.

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước (01);
  • - Viện KSND tỉnh Bình Phước (01);
  • - Viện KSND huyện Đồng Phú (01);
  • - Chi cục THADS huyện Đồng Phú (01);
  • - Công an huyện (03 gồm Nhà tạm giữ, Đội
  • hồ sơ nghiệp vụ, Đội điều tra CA huyện)
  • - TT lý lịch tư pháp - Sở Tư pháp tỉnh Bình
  • Phước (01);
  • - PV06 - Công an tỉnh Bình Phước;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác (01);
  • - Lưu (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Nguyên Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 46/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger