Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 46/2025/HSST

Ngày: 26/03/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hòa.
  • Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Ngọc Cường.
  • 2. Ông Đinh Văn Luận.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thanh Ngân – Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
  • Ông Nguyễn Thế Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST-HS ngày 12/03/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1966 tại tỉnh Bắc Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu N, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị C (đều đã chết); gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là thứ tư; có vợ là Nguyễn Thị T1, sinh năm 1971 và 06 con, lớn nhất sinh năm 1989, bé nhất sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:

  • - Tại Bản án hình sự số 20 ngày 28/05/2003 của Toà án nhân dân huyện Quế Võ (nay là thị xã Q), tỉnh Bắc Ninh xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự 1999. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 15/07/2006.
  • - Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/12/2024 đến ngày 30/12/2024 được huỷ bỏ biện pháp “Tạm giữ”, áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại địa phương. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trịnh Văn S, sinh năm 1973; HKTT: Thôn T, xã V, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1983, HKTT: Thôn T, xã V, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Xin xét xử vắng mặt.
  3. Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1973; HKTT: Khu L, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ năm 2022 đến năm 2024, do không có nghề nghiệp ổn định nên Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1966, HKTT: Khu N, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh nảy sinh ý định cho vay lãi nặng cho những người cần vay tiền mà không phải cầm cố tài sản. Trong quá trình điều tra, xác định cách thức tính số tiền, mức lãi và thời gian cho vay của Đ như sau: Mức lãi suất cho vay từ 2.5%/01 tháng đến 11.4%/01 tháng, tương đương từ 30%/01 năm đến 136.8%/01 năm trên số tiền vay, mức lãi suất này cao gấp 1.5 lần đến 6.934 lần so với quy định mức lãi suất cao nhất của Nhà nước. Cụ thể như sau:

1. Hành vi cho vay lãi nặng đối với anh Trịnh Văn S, sinh năm 1973, HKTT: Thôn T, xã V, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

Do anh S làm kinh doanh lĩnh vực xây dựng nên thường xuyên cần tiền để trả lương cho thợ xây, anh S có vay tiền của Đ. Khi vay tiền, anh S sử dụng tài khoản số [...], ngân hàng S1 và tài khoản số 19001012545321, ngân hàng M để thanh toán tiền gốc, tiền lãi cho Đ. khi vay tiền, anh S viết nội dung vay tiền vào tờ lịch đưa Đ giữ, cụ thể như sau:

  • + Lần 1: Tháng 10/2022, anh S vay 35.000.000 đồng với lãi suất khoảng 4.000.000 đồng/01 tháng (tương đương lãi suất 11.4%/01 tháng) trong thời hạn vay 08 tháng. Khi cho vay tiền, Đ cắt lãi trước 01 tháng và chuyển cho anh Sau 31.000.000 đồng. Tháng 06/2023, anh S đã trả Đ số tiền 32.000.000 đồng lãi 8 tháng và tiền gốc, trong đó lãi theo quy định là 4.667.600 đồng. Số tiền Đ thu lợi bất chính là 27.332.400 đồng.
  • + Lần 2: Tháng 8/2023, anh S vay 20.000.000 đồng với lãi suất 2.000.000 đồng/01 tháng (tương đương lãi suất 10%/01 tháng) trong thời hạn vay 06 tháng. Khi cho vay tiền, Đ cắt lãi trước 01 tháng và chuyển cho anh Sau số tiền 18.000.000 đồng. Tháng 2/2023, anh S đã trả Đ số tiền 12.000.000 đồng lãi 06 tháng và tiền gốc, trong đó, lãi theo quy định là 2.000.400 đồng. Số tiền Đ thu lợi bất chính là 9.999.600 đồng.
  • + Lần 3: Ngày 11/05/2024, anh S tiếp tục vay của Đ số tiền 25.000.000 đồng với lãi suất 2.400.000 đồng/tháng (tương đương lãi suất 9%/01 tháng) trong thời hạn vay 06 tháng. Anh S đã trả Đ số tiền 14.400.000 đồng lãi 06 tháng nhưng chưa trả tiền gốc cho Đ, trong đó, lãi theo quy định là 2.500.500 đồng. Số tiền Đ thu lợi bất chính là 11.499.500 đồng.

Tổng số tiền anh S vay của Đ là 80.000.000 đồng, số tiền lãi anh S đã trả cho Đ là 58.400.000 đồng, trong đó, tiền lãi theo quy định là 9.168.500 đồng. Anh S còn nợ Đ tổng số tiền gốc là 25.000.000 đồng. Tổng số tiền Đ thu lợi bất chính là 49.231.500 đồng.

2. Hành vi cho vay lãi nặng đối với anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1983, HKTT: Thôn T, xã V, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

Năm 2023, do cần tiền để kinh doanh lĩnh vực máy bán kem, anh G có gặp Đ để vay tiền, cụ thể như sau:

  • + Lần 1: Tháng 4/2023, anh G vay Đ số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất phải trả là 2.000.000 đồng/01 tháng (tương đương lãi suất 10%/01 tháng). Đ cắt lãi trước và đưa cho anh G số tiền 18.000.000 đồng. Anh G đã trả Đ số tiền lãi 2.000.000 đồng, trong đó mức tiền lãi Nhà nước cho phép là 333.400 đồng, Đ thu lợi bất chính số tiền 1.666.600 đồng.
  • + Lần 2: Tháng 5/2023, anh G vay Đ số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất phải trả là 1.000.000 đồng/01 tháng (tương đương lãi suất 10%/01 tháng), Đ cắt lãi trước và đưa cho anh G số tiền mặt 9.000.000 đồng. Anh G đã trả Đ số tiền lãi 1.000.000 đồng, trong đó, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 166.700 đồng, Đ thu lợi bất chính số tiền 833.300 đồng.

Tổng số tiền anh G vay của Đ là 30.000.000 đồng, tiền lãi anh G đã trả cho Đ là 3.000.000 đồng, trong đó, lãi theo quy định là 500.100 đồng. Đ thu lợi bất chính 2.499.900 đồng.

Do anh G gặp khó khăn trong công việc kinh doanh nên anh G có xin Đ miễn phần lãi cho mình, chỉ trả tiền gốc, Đ đồng ý. Anh G đã trả Đ 4.000.000 đồng tiền nợ gốc qua tài khoản số 0351000514264, ngân hàng V, còn nợ Đ 26.000.000 đồng. Ngoài ra, anh G cũng vay của Đ nhiều lần trong thời gian ngắn nên Đ không yêu cầu anh G phải trả lãi.

Ngày 21/12/2024, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh B (PC02) nhận được đơn tố giác của anh Trịnh Văn S tố giác về việc anh vay tiền của Nguyễn Văn Đ và phải trả lãi số tiền gấp 05 (năm) lần so với mức lãi quy định của Nhà nước. Cùng ngày, Đ đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đầu thú và khai nhận hành vi của mình.

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đ tại khu N, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • - 01 giấy vay tiền ghi ngày 04/04/2024 (âm lịch) tên Trịnh Văn S, số tiền 25.000.000 đồng.
  • - 01 giấy vay tiền ghi ngày 10/04/2024 (âm lịch) tên Nguyễn Văn B, số tiền 20.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, truy tố, Nguyễn Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Với nội dung trên, Cáo trạng số 21/CT-VKSBN-P1 ngày 25/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo trình bày: Do hám lợi và thiếu hiểu biết pháp luật, bị cáo đã thực hiện hành vi cho vay lãi nặng đối với các khách hàng có nhu cầu vay tiền với mức lãi suất là 3.200 đồng/1 triệu/1 ngày đến 3.800 đồng/1 triệu/1 ngày, cao gấp 5.23 lần đến 6.934 lần so với quy định mức lãi suất cao nhất của Nhà nước. Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt và trong quá trình điều tra đã đề nghị xử lý bị cáo Nguyễn Văn Đ theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội giữ nguyên tội danh Cáo trạng truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyên Văn Đ1 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Áp dụng khoản 1 Điều 201, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 BLHS xử phạt Nguyễn Văn Đ từ 100 đến 150 triệu đồng. Do đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Đ.

Đề nghị truy thu của Nguyễn Văn Đ 84 triệu đồng và của anh Nguyễn Văn G 26 triệu đồng tiền gốc vay chưa trả bị cáo Đ để sung ngân sách nhà nước;

Đề nghị truy thu của Nguyễn Văn Đ tiền lãi được nhà nước cho phép là 9.668.600 đồng sung ngân sách nhà nước;

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải trả lại số tiền thu lợi bất chính cho anh Trịnh Văn S và anh Nguyễn Văn G là 51.731.400 đồng.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt hơn mức Viện kiểm sát đã đề nghị.

Đối đáp với ý kiến của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã luận tội.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo rất ăn năn về hành vi phạm tội của bản thân, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Đối với hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do vậy Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở kết luận:

Từ năm 2022 đến năm 2024, Nguyễn Văn Đ đã cho anh Trịnh Văn S và anh Nguyễn Văn G vay nhiều lần với tổng số tiền là 110.000.000 đồng, mức lãi suất từ 3.200 đồng/01 triệu/1 ngày đến 3.800 đồng/01 triệu/01 ngày. Số tiền lãi mà Đ thu về là 61.400.000 đồng, trong đó, số tiền lãi mà Nhà nước quy định là 9.668.600 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của Nguyễn Văn Đ là 51.731.400 đồng, cao gấp 5.23 đến 6.934 lần so với mức lãi Nhà nước quy định.

Do vậy, đủ căn cứ để xét xử Nguyễn Văn Đ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo Khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng đã truy tố là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.

[3]. Xét tính chất, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy:

Về tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về tín dụng, cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm đến lợi ích của công dân. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, bản thân bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có nhận thức về pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hậu quả mà bị cáo gây ra nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2003 đã bị Tòa án nhân dân huyện Quế Võ (nay là thị xã Q) xử phạt 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án. Tuy nhiên, không lấy đó làm bài học để sửa chữa bản thân mà lại tiếp tục phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, bị cáo đến Cơ quan điều tra để đầu thú và trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải, trước khi xét xử bị cáo đã nộp 51.865.753 đồng vào Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh để khắc phục hậu quả nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

HĐXX xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khi biết hành vi của mình vi phạm pháp luật, bị cáo đã ra đầu thú, trước khi xét xử bị cáo đã nộp một khoản tiền để khắc phục hậu quả. Do đó, cần áp dụng hình phạt chính là “Phạt tiền” cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo thành công dân sống có ích cho xã hội. Do đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

[4]. Về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự:

4.1. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật hình sự.

  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với số tiền mà bị cáo dùng để cho anh Trịnh Văn S và anh Nguyễn Văn G vay là 110.000.000 đồng. Quá trình điều tra, thể hiện anh Trịnh Văn S còn nợ bị cáo 25.000.000 đồng và anh Nguyễn Văn G còn nợ bị cáo 26.000.000 đồng tiền gốc. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay bị cáo trình bày, sau khi bị cáo làm việc với Cơ quan điều tra về thì anh S đã trả đủ 25 triệu đồng tiền gốc cho bị cáo, đến nay chỉ còn anh Nguyễn Văn G nợ bị cáo 26.000.000 đồng tiền gốc nên cần buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp lại 84.000.000 đồng và anh Nguyễn Văn G nộp lại 26.000.000 đồng để sung ngân sách nhà nước.
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (20%/năm) là 9.668.600 đồng mà bị cáo đã thu của anh Trịnh Văn S và anh Nguyễn Văn G.
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải trả lại cho anh Trịnh Văn S và anh Nguyễn Văn G số tiền bị cáo thu lợi bất chính là 51.731.400 đồng. Cụ thể:
    • + Trả lại anh S số tiền 49.231.500 đồng.
    • + Trả lại anh G số tiền 2.499.900 đồng.

4.2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

  • - Đối với 02 giấy vay tiền có thể hiện nội dung vay mượn tiền giữa bị cáo và người liên quan là tài liệu chứng cứ vụ án nên cần tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.

[5]. Về vấn đề liên quan khác:

Đối với anh Nguyễn Văn B, ngày 17/05/2024, bị cáo cho anh B vay 20.000.000 đồng, không thoả thuận về lãi. Tháng 8/2024, anh B trả bị cáo số tiền gốc 20.000.000 đồng và tiền lãi 1.500.000 đồng (tương đương khoảng 833.333 đồng/1 triệu/1 ngày, trong đó, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 1.000.200 đồng. Bị cáo thu lợi bất chính số tiền 499.800 đồng. Hành vi cho vay của bị cáo đã vượt qua mức lãi suất cho phép nhưng chưa đến mức xử lý hình sự. Căn cứ điểm d, khoản 4 Điều 12, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã có văn bản đề nghị UBND thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn Đ về hành vi “Không đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền có cầm cố tài sản hoặc không cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự” là phù hợp.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

  • - Áp dụng Khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 60 (Sáu mươi) triệu đồng sung ngân sách nhà nước.

2. Về trách nhiệm dân sự :

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật hình sự.

  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước của Nguyễn Văn Đ 84.000.000 đồng tiền dùng vào việc phạm tội và 9.668.600 đồng tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (20%/năm), tổng cộng là 93.668.600 đồng. Xác nhận bị cáo đã nộp 51.865.753 đồng theo biên lai thu tiền số 0001910 ngày 6/3/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
  • - Buộc anh Nguyễn Văn G phải nộp lại 26.000.000 đồng tiền gốc chưa trả bị cáo Đ để sung ngân sách nhà nước.
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải trả lại cho anh Trịnh Văn S và anh Nguyễn Văn G số tiền bị cáo thu lợi bất chính là 51.731.400 đồng. Cụ thể:
    • + Trả lại anh S số tiền 49.231.500 đồng.
    • + Trả lại anh G số tiền 2.499.900 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng phải chịu một khoản lãi của số tiền chậm thi hành án theo quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao, VKSND Cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - CQĐT (PC02), (PV06) Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo; người TGTT;
  • - Lưu HS; Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HSST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 46/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger