Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRIỆU SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HSST

Ngày: 27 - 05 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Long và bà Đàm Thị Thơ;

Thư ký phiên toà: Ông Lê Sỹ Vĩ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2025/HSST ngày 04 tháng 04 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2025/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 05 năm 2025 đối với bị cáo:

Trịnh Ngọc H, sinh năm 1984; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam

Số căn cước công dân: [...].

Địa chỉ: Phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Con ông: Trịnh Ngọc H1 (đã chết) và bà Đỗ Thị D, sinh năm 1955.

Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, Tiền sự: không.

Nhân thân:

- Ngày 29/03/2012 bị Chủ tịch UBND huyện T áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng. Ngày 07/03/2014 chấp hành xong.

- Ngày 18/3/2025, bị Phòng C về ma túy Công an tỉnh T xử phạt 1.500.000₫ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/10/2024, đến ngày 31/10/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện nay đang tạm giam tại trại tạm giam Công an T, khu vực T.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Trịnh Ngọc H2, sinh năm 1988 Địa chỉ: SN F L, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 22/10/2024, thông qua giới thiệu của các bạn nghiện, Trịnh Ngọc H dùng điện thoại Samsung Galaxy A12 đăng nhập tài khoản Telegram “Ngọc H3” nhắn tin, gọi điện cho tài khoản T “H4” (người không quen biết) để hỏi mua 1.000.000₫ ma túy loại hồng phiến, người này đồng ý, yêu cầu H chuyển khoản đến số tài khoản “anhem1991” ngân hàng T2. H sử dụng tài khoản ngân hàng V số tài khoản 038084043299 chuyển tiền, sau khi nhận được tiền, “Helo” gửi cho H 01 ảnh vị trí cất giấu ma túy ở khu vực sân bóng xã Đ, thành phố T. Theo hướng dẫn, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 36B2-437.14 (xe của anh Trịnh Ngọc H2 sinh năm 1988, ở số nhà F L, thị trấn T) đến lấy ma túy, đặc điểm ma túy loại hồng phiến có 08 viên nén màu hồng, H cầm ma túy trên tay trái và điều khiển xe mô tô về nhà, khi đến tổ dân phố T, thị trấn T thì bị Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ 01 túi ni lông màu trắng có mép dính màu đỏ bên trong chứa 08 viên nén màu hồng nghi là ma túy, H khai nhận 08 viên ma túy là của H mua về để bán kiếm lời và sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản thu giữ quả tang vật chứng và niêm phong theo quy định. Ngoài ra, Tổ công tác còn thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12, 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 36B2-437.14 của Trịnh Ngọc H.

Ngày 22/10/2024 Công an huyện T tiến hành khám xét nơi ở của H nhưng không thu giữ được gì.

Tại bản kết luận giám định số 4081/KL-KTHS ngày 29/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: 08 viên nén màu hồng thu giữ là ma túy, có tổng khối lượng 0,837g loại Methamphetamine.

Ngày 18/02/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện T trưng cầu giám định điện thoại. Kết luận giám định số 889/KL-KTHS ngày 18/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: tìm thấy 248 cuộc gọi, 2790 tin nhắn Messenger, 8721 tin nhắn Telegram, 193314 tin nhắn Zalo trong điện thoại Trần Ngọc H5.

Bản cáo trạng số 43/2025/ CT- VKS- TS, ngày 03 tháng 04 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, truy tố các bị cáo Trịnh Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thừa nhận việc phạm tội và khẳng định bản cáo trạng truy tố đúng với hành vi phạm tội của mình, khai nhận chiếc xe bị cáo sử dụng đi mua ma túy là mượn của anh Trịnh Ngọc H2 ( là em trai) để bị cáo đi làm shipper, tiền mua ma túy là do bị đi làm mà có, mục đích mua ma túy để sử dụng và bán kiếm lời.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • + Áp dụng điều luật: Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự
  • + Đề nghị xử phạt bị cáo từ 30 tháng đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2024.
  • Không phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • + Về vật chứng đề nghị: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự, Khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định;
  • Đề nghị tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại của bị cáo.
  • Đề nghị trả lại chiếc xe máy cho anh H2.
  • + Về án phí đề nghị: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có tranh luận gì không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn. Tại lời nói sau cùng trước khi HĐXX vào phòng nghị án, bị cáo nhận thức thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, hối hận về việc làm của mình, xin Hội đồng xét xử sơ thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định có tội các bị cáo:

Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 22/10/2024, tại tổ dân phố T, thị trấn T, huyện T, tổ công tác Công an huyện T, phối hợp với Công an thị trấn T kiểm tra phát hiện, bắt quả tang Trịnh Ngọc H có hành vi tàng trữ trái phép 0,837g ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng và bán kiếm lời, nhưng chưa kịp bán và sử dụng thì bị bắt quả tang và thu giữ tang vật.

Hành vi trên của bị cáo phạm vào tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm trật tự quản lý hành chính của cơ quan quản lý Nhà nước về chất gây nghiện, ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội. Hành vi của bị cáo không những làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, mà còn là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác. Tuy nhiên trong vụ án này, bị cáo chưa kịp bán ma túy cho người khác thì đã bị phát hiện và bắt giữ. Vì vậy khi lượng hình cũng cần phải đánh giá toàn diện nội dụng vụ án để có hình phạt phù hợp đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bố bị cáo có giấy chứng nhận bệnh binh, tỷ lệ suy giảm khả năng lao động là 70%; Bị cáo hoàn thành nghĩa vụ quân sự và được chứng nhận “ Danh hiệu chiến sỹ giỏi năm 2003”. Như vậy bị cáo được hưởng thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[4] Về trách nhiệm hình sự: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ răn đe, rèn luyện ý thức tuân thủ pháp luật, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - Tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định;
  • - Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy của bị cáo dùng để nhắn tin qua ứng dụng Telegram để mua ma túy hồng phiến.
  • - Trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 36B2-437.14 cho anh Trịnh Ngọc H2.

[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ:
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333; 336; 337 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Áp dụng khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tiểu mục 1, mục I danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo nghị quyết 326.

  3. Tuyên bố:
  4. Bị cáo Trịnh Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  5. Xử phạt:
  6. Bị cáo Trịnh Ngọc H 33 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  7. Về xử lý vật chứng:
    • - Tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định;
    • - Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A12 của bị cáo dùng để nhắn tin qua ứng dụng Telegram để mua ma túy hồng phiến.
    • - Trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 36B2-437.14 cho anh Trịnh Ngọc H2.

    Các tang vật này hiện nay đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn theo biên bản bàn giao tang vật ngày 29/04/2025.

  8. Về án phí:
  9. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

  10. Về quyền kháng cáo:
  11. Bị cáo Trịnh Ngọc H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh H2 được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa
  • - VKSND huyện Triệu Sơn;
  • - Công an tỉnh Thanh Hóa
  • - THA huyện Triệu Sơn
  • - Bị cáo; anh Hảo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HSST ngày 27/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 46/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Ngọc H phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger