TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2025/HSST Ngày: 27-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Bình và bà Nguyễn Thị Tuyết Mai.
Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Tuấn Long - Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, TP. Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Huê - Kiểm sát viên.
Ngày 27/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2025/TLST-HS ngày 20/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HS ngày 10/02/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/QĐ-HPT ngày 24/02/2025 của Tòa án nhân dân quận Long Biên đối với bị cáo:
Họ và tên: VƯƠNG QUỐC A (tên gọi khác: Không), sinh năm 1994; nơi thường trú: Tổ F, phường B, quận L, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Vương Đức T và bà Đặng Thị H; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 05/9/2010, Công an phường T, quận L xử phạt hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”; ngày 28/11/2023, Công an thành phố T, tỉnh Bắc Ninh xử phạt hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/8/2024 đến ngày 15/12/2024 chuyển tạm giam. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Chị Tạ Thị N, sinh năm: 1999; nơi thường trú: Thôn T, xã V, huyện Y, tỉnh Yên Bái (vắng mặt);
- - Anh Hoàng Văn C, sinh năm: 1973; nơi thường trú: Tổ A, phường V, quận L, thành phố Hà Nội (vắng mặt);
- - Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1985; nơi thường trú: Số I, ngách C N, phường N, quận T, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 08 giờ 15 phút, ngày 06/8/2024, tổ công tác Công an phường L - Công an quận L kiểm tra phòng trọ 503 số nhà A Đ, phường L phát hiện bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy đối với Vương Quốc A; sinh năm: 1996; nơi cư trú: Số A Đ, phường L, quận L, TP . Hà Nội. Thu giữ vật chứng gồm: 01 túi nilong chứa 04 viên nén màu hồng; 01 túi nilong chứa 03 viên nén màu nâu nhạt; 01 túi thảo mộc khô; 01 bộ cóong tự tạo để sử dụng ma túy của Vương Quốc A. 01 giỏ nhựa và 01 điện thoại iphone 15 Plus màu hồng thu giữ của Tạ Thị N.
* Tại bản kết luận giám định số: 5813 ngày 15 tháng 08 năm 2024 của Phòng PC09 - C1: 04 viên nén màu hồng bên trong 01 túi nilong đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,382 gam; 03 viên nén màu nâu nhạt bên trong 01 túi nilong đều là ma túy MDMA, tổng khối lượng 0,837 gam; Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilong đều là cần sa khối lượng 0,431 gam; 01 bộ cóong đã qua sử dụng có dính ma túy loại Methamphetamine.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra Vương Quốc A khai nhận: Tháng 06/2024, Vương Quốc A và Tạ Thị N, sinh năm: 1999; trú tại: Thôn T, xã V, Y, Yên Bái cùng nhau thuê phòng 503 số nhà A Đ, phường L để ăn ở và sinh hoạt cùng nhau tại địa chỉ này. Do bản thân là người sử dụng ma tuý đá nên ngày 03/08/2024, Vương Quốc A liên hệ qua Zalo với đối tượng có tài khoản Z tên “Nguyễn Đức N1” nhờ N1 mua hộ cho 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) tiền ma túy đá để sử dụng. Sau đó, N1 đi xe máy đến gặp Quốc A ở dưới cửa phòng trọ và đưa cho Quốc A 01 túi ma tuý đá, Quốc A cầm túi ma tuý này lên phòng cho vào trong cóong thuỷ tinh sử dụng cùng với Tạ Thị N. Sử dụng hết ma tuý trong cóong thủy tỉnh, Quốc A cất chiếc cóong dưới gầm bàn trong phòng. Sáng ngày 05/08/2024, Quốc A đi taxi một mình từ phòng trọ sang ngõ A N, phường L, H, Hà Nội đến phòng trọ của bạn xã hội có tên trên Z là “Nhữ Mai T1” và sử dụng ma tuý cùng T1 tại đây. Sau khi sử dụng ma túy xong, T1 cho Quốc A 01 túi nilong chứa 04 viên ma túy hồng phiến cùng 01 túi cần sa để sử dụng. Quốc A mang số ma túy về phòng trọ và rủ Tạ Thị N sử dụng nhưng N bảo bị đau bụng nên không sử dụng, do vậy Quốc A đã cất số ma túy (gồm 04 viên hồng phiến và 01 túi cần sa) vào trong chiếc giỏ nhựa và để trên bàn. Trước đó khoảng 15 ngày có một người bạn xã hội tên Đ đã cho Quốc A 03 viên nén màu nâu để sử dụng nhưng do chưa sử dụng nên Quốc A cất trong phòng. Chiếc cóong thủy tinh dùng để sử dụng ma túy cùng N, Quốc A mua trước đó trên mạng xã hội của một người không quen biết với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) để sử dụng ma túy đá. Sáng ngày 06/08/2024, Cơ quan Công an tiến hành kiểm tra hành chính đã thu giữ toàn bộ số vật chứng trên.
Ngoài ra Quốc A còn khai việc Quốc A mang ma túy về cất giấu trong phòng để sử dụng không có sự trao đổi, bàn bạc gì với Tạ Thị N và N không biết việc này, tin nhắn từ máy điện thoại Iphone của N có tin nhắn Zalo với tài khoản có tên: Nguyễn Đức N1 về việc mua ma túy là do Quốc A bị hỏng điện thoại nên lấy máy của N nhắn mua ma túy, N không biết N1 lấy máy của N nhắn để mua ma túy.
Tại cơ quan điều tra Tạ Thị N khai nhận: N và Vương Quốc Anh T số nhà A Đ, phường L để ăn ở và sinh hoạt cùng nhau, hàng tháng Quốc A là người trả tiền nhà. Quá trình sống cùng nhau N biết Quốc A có sử dụng ma túy, thỉnh thoảng N và Quốc A có sử dụng ma túy cùng nhau lần gần nhất là 03/8/2024, Quốc A mang ma túy về cho vào cóong, Quốc A sử dụng trước rồi nhung sử dụng, sau khi sử dụng xong ma túy Quốc A cất cóong dưới gầm bàn. Việc Quốc A mua ma túy và cất ma túy tại phòng N hoàn toàn không biết, ngày 03/8/2024 Quốc A có sử dụng điện thoại của N để mua ma túy N hoàn toàn không biết. Vì vậy, cơ quan điều tra không xử lý đối với N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ra quyết định xử phạt hành chính đối với Tạ Thị N về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Xét nghiệm ma túy đối với Vương Quốc A và Tạ Thị N đều dương tính với chất ma túy Methamphetamine.
Đối với anh Hoàng Văn C (SN: 1973; HKTT: Tổ 1 V, L, Hà Nội) là chủ sở hữu căn nhà 1 Đ, phường L, Hà Nội. Do công việc bận, anh C đã giao cho Nguyễn Thị H1, SN: 1985; HKTT: số 9, ngách C N, N, T, Hà Nội làm quản lý, giao dịch việc cho thuê căn hộ tại địa chỉ 1 Đ nêu trên, Vương Quốc A thuê phòng 503 cùng N rồi Tổ chức cho N sử dụng ma túy và Quốc A Tàng trữ ma túy trong phòng, anh C hoàn toàn không biết. Vì vậy, cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh C.
Đối với Nguyễn Thị H1 là người được anh Hoàng Văn C giao cho quản lý, trông coi và giao dịch việc cho thuê nhà số A Đ, phường L chị trực tiếp giao dịch với Quốc A và N để cho thuê phòng 503 nhà trọ 16/84 Đàm Quang T2, N ký hợp đồng thuê phòng trực tiếp với anh Hoàng Văn C, việc trả tiền nhà và các khoản khác là do Quốc A trả cho chị H1. Việc Quốc A mua ma túy về Tàng trữ, sử dụng và Tổ chức cho N sử dụng ma túy chị hoàn toàn không biết. Vì vậy, cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị H1.
Đối với đối tượng “Tùng” có hành vi cho Quốc A 04 viên ma túy hồng phiến và 01 túi cần sa, cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải Quốc A đến hẻm A N, phường lĩnh N2, H, Hà Nội để xác định đối tượng “Tùng” nhưng Quốc A không xác định được địa chỉ cụ thể. Xác minh tại Công an phường L được cung cấp: Tại địa chỉ hẻm A N, phường L không có ai tên là Nhữ Mai T1; sinh năm: 1992 đăng ký tạm trú hay ăn ở sinh hoạt tại đây, kiểm tra Zalo “Nhữ Mai T1” không có số điện thoại vì vậy không có cơ sở để điều tra. Ngoài lời khai của Quốc A ra không có tài liệu nào khác do vậy không đủ căn cứ làm rõ để xử lý đối với đối tượng tên T1.
Đối với đối tượng “Nguyễn Đức N1” mà Quốc A nhờ mua hộ 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng) tiền ma túy đá để sử dụng ngày 03/08/2024, Quốc A chỉ biết tên là N1 và nhà ở Quán T, phường G, L, Hà Nội (không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể). Xác minh tại Công an phường G được cung cấp khu Q gồm các tổ dân phố số E, 6, 7 nhưng không có ai tên là Nguyễn Đức N1, kiểm tra Z “Nguyễn Đức N1" không có số điện thoại, nên không có cơ sở để điều tra.
Đối với đối tượng tên Đ (Quốc A khai là người cho 03 viên ma tuý kẹo), Quốc A khai không biết tên, tuổi, địa chỉ và số điện thoại, nên cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ.
Đối với 0,382 gam ma túy loại Methamphetamine, 0,837 gam ma túy MDMA, 0,431 gam cần sa, 01 cóong đã qua sử dụng có dính Methamphetamine, 01 giỏ nhựa đã qua sử dụng, 01 điện thoại Iphone Plus bản 128 GB màu hồng liên quan đến hành vi phạm tội chuyển cơ quan thi hành án quản lý theo quy định của pháp luật.
Bản cáo trạng số 20/CT-VKSLB ngày 16/01/2025, Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Vương Quốc A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đánh giá chứng cứ, phân tích tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 55 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Vương Quốc A: Từ 12 - 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 24 - 28 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 36 - 44 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/8/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Áp dụng: Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 0,382 gam ma túy loại Methamphetamine, 0,837 gam ma túy MDMA, 0,431 gam cần sa, 01 cóong đã qua sử dụng có dính Methamphetamine, 01 giỏ nhựa đã qua sử dụng. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại Iphone Plus bản 128 GB màu hồng thu giữ của Tạ Thị N có liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của Vương Quốc A.
- Tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Vương Quốc A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Tạ Thị N; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng do Công an phường L lập ngày 06/8/2024 cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đầy đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 08 giờ 15 ngày 06/8/2024, tại phòng 503 số nhà A Đ, phường L, Hà Nội, bị cáo Vương Quốc A có hành vi Tàng trữ trái phép 0,382 gam ma túy loại Methamphetamine, 0,837 gam ma túy loại MDMA, 0,431 gam thảo mộc cần sa mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an phường L, quận L phát hiện bắt quả tang. Qua điều tra còn xác định: Ngày 03/8/2024 tại: P số nhà A Đ, phường L, Hà Nội, bị cáo Vương Quốc A có hành vi tổ chức cho Tạ Thị N sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine.
Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Vương Quốc A đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội truy tố đối với bị cáo Vương Quốc A là có căn cứ, đúng pháp luật.
Liên quan trong vụ án này còn có Tạ Thị N người thuê phòng 503 số nhà A Đ, phường L cùng với bị cáo Vương Quốc A để ăn ở tại đây. Quá trình điều tra xác định: Đối với hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, N là người được Quốc A mời sử dụng ma túy, không cùng với Quốc A tổ chức sử dụng ma túy; đối với hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, N không biết Quốc A mua và được cho ma túy để tàng trữ sử dụng. Vì vậy, cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với N và ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.
Đối với anh Hoàng Văn C là chủ sở hữu căn nhà 1 Đ, phường L, Hà Nội, có giao cho Nguyễn Thị H1 làm quản lý, giao dịch việc cho thuê căn hộ nêu trên. Cả anh C và chị H1 đều không biết việc Vương Quốc A thuê phòng 503 cùng N sử dụng ma túy và không biết Quốc A tàng trữ ma túy trong phòng, nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh C và chị H1 là có căn cứ.
Đối với đối tượng “Nhữ Mai T1” có hành vi cho Quốc A 04 viên ma túy hồng phiến và 01 túi cần sa, cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải Quốc A đến hẻm A N, phường lĩnh N2, H, Hà Nội để xác định đối tượng trên nhưng Quốc A không xác định được địa chỉ cụ thể. Qua điều tra không xác định được địa chỉ cụ thể của người tên “Nhữ Mai T1”, nên cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ xử lý là có căn cứ.
Đối với đối tượng “Nguyễn Đức N1” mà Quốc A nhờ mua hộ 500.000 đồng tiền ma túy đá để sử dụng ngày 03/08/2024, Quốc A chỉ biết tên là N1 và nhà ở Quán T, phường G, L, Hà Nội (không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể). Qua điều tra không xác định được địa chỉ cụ thể của Nguyễn Đức N1, nên cơ quan điều tra không có cơ sở để làm rõ xử lý là có căn cứ.
Đối với đối tượng tên Đ (Quốc A khai là người cho 03 viên ma tuý kẹo), Quốc A khai không biết tên tuổi địa chỉ và số điện thoại. Qua điều tra không có căn cứ xác định nhân thân của người này, nên cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ là có căn cứ.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, tiếp tay cho các đối tượng mua bán ma túy, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm, tệ nạn xã hội. Do đó, cần xét xử hành vi của bị cáo nghiêm minh mới có tác dụng răn đe bị cáo và góp phần vào việc đấu tranh, phòng chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm về ma túy.
[4] Xét nhân thân: Bị chưa có tiền án, có 02 tiền sự đã được xóa, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Bị cáo phạm hai tội nghiêm trọng, cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người tốt, người có ích cho gia đình và xã hội. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm, không có thu nhập và tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án:
- - Số ma túy thu giữ của bị cáo được hoàn lại sau giám định là 0,382 gam ma túy loại Methamphetamine, 0,837 gam ma túy loại MDMA, 0,431 gam cần sa, cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 cóong đã qua sử dụng có dính Methamphetamine, 01 giỏ nhựa đã qua sử dụng không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 điện thoại Iphone Plus bản 128 GB màu hồng thu giữ của Tạ Thị N có liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội, cần tịch thu để sung quỹ nhà nước.
[7] Các vấn đề khác: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Vương Quốc A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Về hình phạt, áp dụng:
Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 và Điều 55 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Vương Quốc A 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/8/2024.
- Về vật chứng, áp dụng: Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- + Tịch thu tiêu hủy: 0,382 gam ma túy loại Methamphetamine; 0,837 gam ma túy loại MDMA và 0,431 gam cần sa; 01 cóong đã qua sử dụng có dính Methamphetamine, 01 giỏ nhựa đã qua sử dụng.
- + Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại Iphone Plus bản 128 GB màu hồng.
Các vật chứng nêu trên, tình trạng như biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an quận L và Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên, thành phố Hà Nội ngày 17/01/2025.
- Về án phí, áp dụng: Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”. Bị cáo Vương Quốc A phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo, áp dụng: Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
+ Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Việt Phương |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Việt Phương |
Bản án số 46/2025/HSST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 46/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vương Quốc A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
