TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 46/2025/HSST Ngày 15-04 - 2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
—
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Đỗ Minh
- Ông Trần Đình Đậu
- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Trung Sơn - Thư ký tòa án Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 36/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Đỗ Gia N, sinh ngày: 25/3/1986 tại tỉnh Phú Thọ; đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ B, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Gia H, sinh năm 1962 và Đỗ Thị Bích L, sinh năm 1964; có vợ: Phạm Thị Thu P, sinh năm 1984 và có 02 con, con lớn sinh năm 2016 và con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/01/2025 đến ngày 16/01/2025; hiện nay bị cáo đang tại ngoại và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt);
2. Trần Anh K, sinh ngày: 12/2/1959 tại tỉnh Hà Nam; đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ G, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Hưu trí; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C, sinh năm 1936, (đã chết) và bà Trần Thị L1, sinh năm 1937 ( đã chết); có vợ: Nguyễn Thị L2, sinh năm 1963 và có 02 con, lớn sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/01/2025 đến ngày 16/01/2025; hiện nay bị cáo đang tại ngoại và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt);
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Trần Xuân T, sinh năm 1989; Đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ E, khu E, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
2. Ông Nguyễn Ngọc C1, sinh năm 1963; Đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ H, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 40 phút ngày 12/01/2025, tại khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác đội Điều tra hình sự - Công an thành phố V đã tiến hành kiểm tra phát hiện bị cáo N có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề. Quá trình kiểm tra bị cáo N khai nhận đã sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 Pro màu vàng, số Imei 1: 356687110189655, số Imei 2: 356687110429333, lắp sim số 0981.525.903 của mình nhắn tin qua ứng dụng Zalo để bán số lô, số đề cho ông Nguyễn Ngọc C1, sinh năm 1963, HKTT: khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; bị cáo K và anh Trần Xuân T, sinh năm 1989, HKTT: tổ E, khu E, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ với tổng số tiền là 6.530.000 đồng. Tổ công tác lập biên bản kiểm tra hành chính đồng thời tạm giữ của bị cáo N 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu vàng, số Imei 1: 356687110189655, số Imei 2: 356687110429333, kèm sim số 0981.525.903.
Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành triệu tập bị cáo K, ông Nguyễn Ngọc C1 và anh Trần Xuân T. Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng đã thừa nhận hành vi đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô, số đề qua tin nhắn ứng dụng Zalo với bị cáo N. Đồng thời bị cáo K đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A35 5G, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 350524541347345, số IMEI 2: 352227681347342 gắn 01 sim số 0382.972.143 của bị cáo dùng để nhắn tin mua bán số lô, số đề với N; ông C1 đã tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 8.3 màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 353137110397398 gắn sim số 0917.757.394 của ông dùng để nhắn tin mua bán số lô với bị cáo N; anh T tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 Promax, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 3539000107255048, số IMEI 2: 353900107257341 gắn sim số 0868.819.893 của T dùng để nhắn tin mua bán số lô, đề với bị cáo N.
Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Gia N, Trần Anh K, Trần Xuân T và Nguyễn Ngọc C1 khai nhận hành vi vi phạm của mình như sau:
Do bị cáo N có quen và biết bị cáo K, ông C1 và anh T có nhu cầu muốn mua số lô, số đề nên bị cáo N đã thoả thuận với bị cáo K, ông C1 và anh T khi nào có nhu cầu mua số lô, số đề thì nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho bị cáo N. Ngày 12/01/2025, N đã bán các số lô, số đề cho bị cáo K, ông C1, anh T như sau:
Khoảng 17 giờ 15 phút, anh T dùng tài khoản zalo của mình (bị cáo N lưu tên T là “Thiết Lx T” được đăng ký từ số điện thoại 0860.819.xxx của anh T) nhắn tin vào tài khoản zalo bị cáo N là “Nam Do” với nội dung “Lo 32:60đ; 38,83:15đ” nghĩa là T mua số lô 32 với 60 điểm, giá 20.000 đồng/01 điểm tương đương 1.200.000 đồng; mua các số lô 38, 83 mỗi số 15 điểm, tổng 30 điểm tương đương 600.000 đồng. Sau khi nhận được tin nhắn của T, N nhắn tin lại “OK” để xác nhận đồng ý bán cho T các số lô trên. Tổng số tiền N bán số lô cho T là 1.800.000 đồng. Số tiền mua số lô T chưa thanh toán cho N.
Sau đó, bị cáo K nhắn tin từ tài khoản Zalo của mình (bị cáo N lưu tên zalo K là “ Ong Kim” được đăng ký từ số điện thoại 0382.972.xxx của bị cáo K) đến tài khoản Zalo của bị cáo N với nội dung:
+ Tin nhắn 1 vào 17 giờ 59 phút: “ 66 x 150n 121 81 x 100n. 242 484 040 79 11 282 262 x 60n. 18 97 141 575 020 171 080 343 x 30n. bộ G bộ 98x 30n. kép bằng x 50n. kép lệch x 30n”. Có nghĩa K mua các số đề 66 giá 150.000 đồng; số đề 12, 21, 81 với giá 100.000 đồng/ 01 số, tổng 03 số giá 300.000 đồng; Số đề 24, 42, 48, 84, 04, 40, 79, 11, 28, 82, 26, 62 giá 60.000 đồng /01 số, tổng 12 số giá 720.000 đồng; số đề 18, 97, 14, 41, 57, 75, 02, 20, 17, 71, 08, 80, 34, 43 với giá 30.000 đồng/01 số, tổng 14 số giá 420.000 đồng.
Bộ G, bộ I gồm các số: 07,70, 02, 20, 57, 75, 52, 25, 98, 89, 93, 39, 48, 84, 43, 34 giá 30.000 đồng/1 số, tổng 16 số giá 480.000 đồng; Kép bằng gồm các số: 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99 giá 50.000 đồng/1 số, tổng 10 số giá 500.000 đồng; Kép lệch gồm các số 05,50, 16, 61, 27, 72, 38, 83, 49, 94 giá 30.000 đồng/1 số, tổng 10 số giá 300.000 đồng. Số tiền K mua số lô, số đề tại tin nhắn 1 là 2.870.000 đồng.
- Tin nhắn 2 vào 18 giờ 18 phút: “ 090 010 x 30n” có nghĩa là K mua các số đề: 09, 90, 01, 10 với giá 30.000 đồng/01 số, tổng 04 số giá 120.000 đồng.
- Tin nhắn 3 vào 18 giờ 24 phút: “ 686 585 x 30n” có nghĩa là K mua các số đề: 68, 86, 58, 85 với giá 30.000 đồng/01 số, tổng 04 số giá 120.000 đồng.
Sau mỗi tin nhắn của K, N đều nhắn tin lại cho K với nội dung “Ok” để xác nhận đồng ý bán số đề như trên cho K. Tổng số tiền N đã bán số lô, số đề cho K ngày 12/01/2025 là 3.110.000 đồng. Số tiền mua số lô, số đề K chưa thanh toán cho N.
Đến 18 giờ 15 phút, ông C1 nhắn tin từ tài khoản Zalo của ông C1 (bị cáo N lưu tên là “Chu Châu K1” được đăng ký từ số điện thoại 0917.757.xxx của ông C1) đến tài khoản Zalo của N để mua số đề cụ thể:
- Tin nhắn 1 vào 18 giờ 15 phút: “ Bộ. 11 x 60. So. 11 x 120. Во. 70. 12. 10. 64 x 15. Kep x 15” có nghĩa C1 mua các số đề trong bộ 11 gồm các số 11, 16, 61, 66 với giá 60.000 đồng/1 số, tổng 04 số giá 240.000 đồng; số đề 11 giá 120.000 đồng; Bộ G1 gồm các số 70, 57, 75, 02, 20, 25, 52, bộ 12 gồm các số 12, 21, 17, 71, 26, 62, 67, 76, bộ 10 gồm các số 01, 10, 15, 51, 06, 60, 56, 65, bộ F gồm các số 46, 64, 69, 96, 14, 41, 19, 91, 07 với giá 15.000 đồng/01 số, tổng 32 số giá 480.000 đồng; kép gồm các số 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99, 05, 50, 16, 61, 27, 72, 38, 83, 49, 94 với giá 15.000 đồng /1 số, tổng 20 số giá 300.000 đồng.
· Tin nhắn 2 vào 18 giờ 23 phút “ Bô. 87x 30. So. 73.37.77.78 x 60” nghĩa là C1 mua các số đề bộ 87 gồm các số 78, 87, 28, 82, 37, 73, 23, 32 với giá 30.000 đồng/01 số, tổng 08 số giá 240.000 đồng; 73, 37, 78, 78 với giá 60.000 đồng/01 số, tổng 04 số giá 240.000 đồng.
Sau mỗi tin nhắn của C1 nhắn tin mua số đề N đều nhắn tin lại cho C1 với nội dung “Ok” để xác nhận đồng ý bán số đề như trên cho C1. Tổng số tiền N bán số đề cho C1 ngày 12/01/2025 là 1.620.000 đồng. Số tiền mua số đề C1 chưa thanh toán cho N.
Quy ước, thoả thuận thắng thua của bọi cáo N, K và anh T, ông C1 như sau: Số lô, số đề là 2 số tự nhiên từ 00 đến 99 do người mua tùy ý lựa chọn. Số đề được so sánh với 2 số cuối của giải đặc biệt kết quả xổ số miền B mở thưởng vào 18 giờ 15 phút kết thúc vào 18 giờ 30 phút cùng ngày, nếu trùng là trúng. Do giải đặc biệt của kêt quả xổ số được Công ty xổ số quay thưởng cuối cùng nên Nam thoả thuận với các đối tượng là đối với số đề sẽ bán trước 18 giờ 30 phút cùng ngày, còn số lô sẽ bán trước 18 giờ 10 phút cùng ngày. Cứ 1.000₫ mà người mua số đề nếu trúng thì N phải trả cho người mua 70.000 đồng. Số lô được so sánh với 02 số cuối của tất cả các giải kết quả xổ số miền B mở thưởng cùng ngày, nếu trùng là trúng. N bán 01 điểm lô với giá 20.000 đồng. Nếu số lô người mua trúng thì cứ 01 điểm lô N phải trả cho người mua 70.000 đồng. Nếu số lô, số đề người mua không trúng thì N được hưởng toàn bộ số tiền của khách mua. Các bên thống nhất sẽ thanh toán tiền mua số đề vào ngày hôm sau sau khi đối chiếu thắng thua.
Quá trình làm việc tại Công ty TNHH MTV X cung cấp thể lệ quay kết quả xổ số miền bắc hàng ngày sẽ bắt đầu quay lúc 18h10 phút và kết thúc lúc 18 giờ 30 phút. Có tổng tất cả 27 giải, giải đặc biệt là giải có kết quả được quay cuối cùng.
Sau khi có kết quả xổ số miền B mở thưởng vào 18 giờ 15 phút kết thúc vào 18 giờ 30 phút cùng ngày do Công ty TNHH MTV X cung cấp, đối chiếu kết quả thì các số lô, số đề của K, T và C1 mua của N có trúng các số lô, số đề gồm: T trúng số lô 38 với 15 điểm x 70.000 đồng = 1.050.000 đồng; Kim trúng số đề 52 giá 30.000 đồng x 70 lần = 2.100.000 đồng; C1 trúng số đề 52 giá 15.000 đồng x 70 lần = 1.050.000 đồng. Số tiền anh T, bị cáo K, ông C1 trúng số lô, số đề bị cáo N chưa thanh toán cho anh T, bị cáo K, ông C1.
Do hành vi đánh bạc của bị cáo N, bị cáo K, Nguyễn Ngọc C1, Trần Xuân T được phát hiện sau khi có kết quả xổ số miền B mở thưởng cùng ngày nên tổng số tiền các đối tượng tham gia đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề vào ngày 12/01/2025 là: bị cáo K tham gia đánh bạc với số tiền 5.210.000 đồng, ông C1 tham gia đánh bạc với số tiền 2.670.000 đồng, anh T tham gia đánh bạc với số tiền 2.850.000 đồng. Bị cáo N bán số lô, số đề cho bị cáo K, T, C1 nên phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền đánh bạc với K, T, C1 là 10.730.000 đồng, Trần Anh K phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền đánh bạc là 5.210.000 đồng. Do T và C1 đều chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc, gá bạc, chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc, gá bạc nên cơ quan điều tra đã chuyển Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 20/02/2025, hình thức xử phạt tiền 350.000 đồng.
Cáo trạng số 34/CT-VKSVT ngày 17/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa,
Các bị cáo N và bị cáo K thừa nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên các bị cáo Đỗ Gia N và Trần Anh K phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Gia N. Đề nghị xử phạt bị cáo N từ 27.000.000đ đến 30.000.000₫
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự đối với bị cáo K. Đề nghị xử phạt bị cáo K từ 22.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng
- Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng và án phí: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đều ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng:
Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo, người tham gia tố tụng khác đúng thời hạn do pháp luật quy định. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Từ khoảng 17 giờ 15 phút đến 18 giờ 24 phút ngày 12/01/2025, tại khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ bị cáo N đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức nhắn tin qua zalo để bán số lô, số đề cho bị cáo K với số tiền 3.110.000 đồng, anh T với số tiền 1.800.000 đồng, ông C1 với số tiền 1.620.000 đồng. Đến khoảng 18 giờ 40 cùng ngày, sau khi so sánh với kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng cùng ngày 12/01/2025, bị cáo Kim T1 số đề với số tiền 2.100.000 đồng, anh T trúng số lô với số tiền 1.050.000 đồng, ông C1 trúng số đề với số tiền 1.050.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo K đánh bạc với N là 5.210.000đ, tổng số tiền anh T đánh bạc với N là 2.850.000₫ và tổng số tiền ông C1 đánh bạc với N là 2.670.000đ. Hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề của bị cáo N và bị cáo K ngày 12/01/2025 được phát hiện sau khi có kết quả xổ số miền B mở thưởng cùng ngày. Do vậy, bị cáo N phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với tổng số tiền là 10.730.000 đồng và bị cáo K phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với số tiền là 5.210.000 đồng.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là ít nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng được Nhà nước bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội nói chung và địa phương nói riêng. Bị cáo đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận biết được hành vi phạm tội của mình là sai trái nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của các bị cáo N, Kim đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Xem xét nhân thân, tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo là lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đều được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo N, K có nhân thân tốt, có 2 tình giảm nhẹ quy định tại điểm s,i khoản 1 Điều 51. Bị cáo phạm tội ít nghiệm trọng, số tiền đánh bạc không lớn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, chỉ cần áp dụng hình phạt tiền cũng đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo thành một công dân tốt cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
Về xử lý vật chứng vụ án và biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Đối với số tiền 4.200.000 đồng là tổng số tiền trúng số lô, số đề của bị cáo K, anh T, ông C1, cụ thể: anh T là 1.050.000 đồng; bị cáo K là 2.100.000 đồng; ông C1 là 1.050.000 đồng: Do đây là tiền phạm tội mà có, số tiền này bị cáo N chưa trả cho bị cáo K, anh T và ông C1 nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước là phù hợp. Xác nhận bị cáo N đã nộp đủ số tiền trên.
Đối với số tiền 2.850.000 đồng đánh bạc của anh T: Số tiền anh T dùng để đánh bạc là 1.800.000 đồng. Còn lại 1.050.000 đồng là số tiền anh T trúng số lô. Do số tiền này anh T chưa thanh toán và cũng nhận thưởng từ bị cáo N nên cần buộc anh T nộp lại số tiền đánh bạc để tịch thu xung quỹ nhà nước. Xác nhận anh T đã tự nguyện nộp lại số tiền 1.800.000 đồng.
Đối với số tiền 2.670.000 đồng đánh bạc của ông C1: Số tiền ông C1 dùng để đánh bạc là 1.320.000 đồng. Còn lại 1.050.000 đồng là số tiền ông C1 trúng số lô, số đề. Do số tiền này ông C1 chưa thanh toán và cũng nhận lại từ bị cáo N nên cần buộc ông C1 nộp lại số tiền đánh bạc để tịch thu xung quỹ nhà nước. Xác nhận ông C1 đã tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền trên.
Đối với số tiền 5.210.000 đồng đánh bạc của bị cáo K: Bị cáo K dùng số tiền 3.110.000 đồng để đánh bạc và số tiền 2.100.000 đồng là tiền trúng số lô, số đề. Số tiền đánh bạc bị cáo chưa đưa cho bị cáo N và số tiền trúng đề cũng chưa được bị cáo N thanh toán. Vì vậy bị cáo K phải nộp lại số tiền đánh bạc là 3.110.000 đồng để sung quỹ nhà nước. Xác nhận bị cáo K đã tự nguyện nộp lại số tiền này.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 Pro màu vàng, số Imei 1: 356687110189655, số Imei 2: 356687110429333 thu giữ của bị cáo N: Đây là điện thoại của N dùng để nhắn tin bán số lô, số đề với anh T, ông C1, bị cáo K nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước là phù hợp.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 Promax, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 3539000107255048, số IMEI 2: 353900107257341 thu giữ của anh T: Đây là điện thoại của anh T và anh T sử dụng điện thoại này để nhắn tin mua số lô với bị cáo N nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước là phù hợp.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A35 5G, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 350524541347345, số IMEI 2: 352227681347342 thu giữ của bị cáo K: Đây là điện thoại của bị cáo K và bị cáo sử dụng nhắn tin mua số lô, số đề với bị cáo N nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước là phù hợp.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 8.3 màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 353137110397398 thu giữ của ông C1: Đây là điện thoại của ông C1 và ông sử dụng điện thoại này để nhắn tin mua số đề với bị cáo N nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước là phù hợp.
Đối với sim số 0981.525.903 thu giữ của bị cáo N; sim số 0868.819.893 thu giữ của anh T; sim số 0382.972.143 thu giữ của bị cáo K; sim số 0917.757.394 thu giữ của ông C1: Đây là các sim số dùng để nhắn tin mua bán số lô, số đề, các sim số này không có giá trị, không sử dụng được nên cần tịch thu tiên hủy là phù hợp.
Đối với hành vi đánh bạc của anh T và ông C1: Do số tiền đánh bạc của anh T và ông C1 chưa đủ để cấu thành tội đánh bạc. Anh T và ông C1 chưa bị xử lý hành chính, kết tội về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hay gá bạc nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét xử lý hình sự là phù hợp.
[3] Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về căn cứ pháp luật, xử lý vật chứng và án phí là phù hợp. Đối hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị phù hợp với hành vi phạm tội, nhân thân và thái độ của bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 35, điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hộiđối với bị cáo Đỗ Gia N.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 35, điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội đối với bị cáo Trần Anh K.
[1]. Tuyên bố bị cáo Đỗ Gia N và bị cáo Trần Anh K phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Đỗ Gia N 30.000.000 đồng.
Xử phạt bị cáo Trần Anh K 25.000.000 đồng.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo N và bị cáo K.
[2]. Về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 Pro màu vàng, số Imei 1: 356687110189655, số Imei 2: 356687110429333 thu giữ của bị cáo N; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 Promax, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 3539000107255048, số IMEI 2: 353900107257341 thu giữ của anh T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A35 5G, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 350524541347345, số IMEI 2: 352227681347342 thu giữ của bị cáo K; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 8.3 màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 353137110397398 thu giữ của ông C1;
Tịch thu và tiêu hủy: sim số 0981.525.903 thu giữ của bị cáo N; sim số 0868.819.893 thu giữ của anh T; sim số 0382.972.143 thu giữ của bị cáo K; sim số 0917.757.394 thu giữ của ông C1.
(Vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì theo biên bản bàn giao ngày 21/03/2025 giữa Công an tỉnh P với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì)
[3] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Đỗ Gia N và Trần Anh K mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 46/2025/HSST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: 46/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Gia N và đồng phạm phạm tội " Đánh bạc"
