TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 46/2025/HSST Ngày 13/3/2025. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH – TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Ngọc.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phước
- Bà Mai Thị Huệ
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nông Đinh Triều.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Đức Xuân Thương – Kiểm sát viên.
Ngày 13/3/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa số 35/2025/HSST-QĐ ngày 26/02/2025 đối với bị cáo:
Trần P, sinh năm 1957 tại tỉnh Thừa Thiên Huế.
Nơi đăng ký thường trú: Khu V, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Nơi sinh sống: Khu Văn H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 09/12. Dân tộc: Kinh.
Giới tính: Nam; Số Căn cước công dân: [...]; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Trần X (đã chết) và bà Huỳnh Thị T (đã chết).
Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư, chưa có vợ con.
- Tiền án: Ngày 31/01/2018, bị Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/5/2018, chưa đóng án phí. Đến ngày 25/10/2024 mới thi hành án phí.
- Tiền sự: không
- Nhân thân:
- + Ngày 03/01/1979, bị Công an huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế lập danh chỉ bản về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”. Xác minh tại Công an huyện P không xác định được hình thức xử lý đối với danh chỉ bản trên.
- + Ngày 26/01/1981, bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế lập danh chỉ bản về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”. Xác minh tại Công an thành phố H không xác định được hình thức xử lý đối với danh chỉ bản trên.
- + Ngày 24/11/1981, bị Công an Q, thành phố Hồ Chí Minh lập danh chỉ bản về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và đưa hối lộ”. Xác minh tại Công an Q, thành phố Hồ Chí Minh không có thông tin trong hệ thống sổ lưu trữ, không xác định được hình thức xử lý.
- + Ngày 22/5/1982, bị Công an Quận B, thành phố Hồ Chí Minh lập danh chỉ bản về hành vi “Buôn bán hàng cấm”. Xác minh tại Công an Quận B, thành phố Hồ Chí Minh không có thông tin trong hệ thống sổ lưu trữ, không xác định được hình thức xử lý.
- + Ngày 22/4/1994, bị Công an huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế lập danh chỉ bản về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”. Xác minh tại Công an huyện H không có thông tin trong hệ thống sổ lưu trữ, không xác định được hình thức xử lý.
- + Ngày 08/12/1998, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 26/3/1999. Đã đóng án phí ngày 15/5/1999
- + Ngày 03/8/2001, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 25/01/2022. Đã đóng án phí ngày 21/4/2002
- + Ngày 22/5/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 03 tháng 16 ngày tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Trả tự do tại phiên tòa. Đã thi hành án phí ngày 04/11/2014.
Bị cáo được tại ngoại tại khu V, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai (Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Văn G - Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ (Vắng mặt).
- Bị hại: Bà Huỳnh Thị Cẩm N, sinh năm 1983
Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Phi là người có 01 tiền án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 02 lần bị kết án đều về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 22/5/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 03 tháng 16 ngày tù và ngày 31/01/2018, bị TAND quận Bình Thạnh, TP . Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù (chưa thi hành án phí), P đều dùng thủ đoạn gian dối, giả vờ đổi tiền từ mệnh giá cao qua mệnh giá thấp rồi dùng chiêu thức làm cho bị hại mất tập trung, thiếu cảnh giác trong quá trình giả vờ đổi tiền, lợi dụng sơ hở rút bớt tiền để chiếm đoạt.
Với thủ đoạn tương tự, ngày 27/3/2024, P chuẩn bị 5.000.000 đồng (mệnh giá 500.000 đồng) rồi đi đến tiệm tạp hóa do chị Huỳnh Thị Cẩm N làm chủ tại ấp A, xã B, huyện L, P giả vờ nói chị N đổi cho P 5.000.000 đồng loại mệnh giá 500.000 thành 5.000.000 đồng loại mệnh giá 200.000 đồng. Chị N tưởng thật đồng ý. Để tạo niềm tin, P đưa chị N 5.000.000 đồng gồm 10 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, sau đó thì chị N đếm tiền để đổi cho P, chị N cầm xấp tiền trên tay rồi đếm mỗi lần 1.000.000 đồng (05 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng) để xuống bàn trước mặt P đang đứng để đổi tiền cho P, P cầm tiền do chị N để trên bàn lên đếm mỗi lần 1.000.000 đồng. Khi đếm đến lượt thứ 3 thì P dùng thủ đoạn giả vờ yêu cầu chị N đổi tiếp 2.000.000 còn lại thành tiền mệnh giá 50.000 đồng mục đích làm chị N phân tâm, mất cảnh giác rồi lấy 1.000.000 đồng (05 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng) trong số 3.000.000 đồng chị N đưa để trên bàn giấu vào túi quần, riêng 2.000.000 đồng còn lại thì P cầm trên tay để đánh lừa chị N. Lúc này, chị N thấy P hỏi đổi tiền lằng nhằng nên bực mình không đổi tiền nữa, đồng thời chị N lấy lại tiền P đang cầm trên tay và trả lại cho P 5.000.000 đồng mệnh giá 500.000 đồng mà P đưa trước đó. Do tin tưởng nên khi lấy lại tiền từ tay P chị N nghĩ rằng còn nguyên 3.000.000 đồng đã đưa nên không kiểm tra lại. Sau khi P điều khiển xe bỏ đi, chị N thấy nghi ngờ kiểm tra lại thì phát hiện số tiền 3.000.000 đồng mệnh giá 200.000 đồng đưa để đổi cho P chỉ còn lại 2.000.000 đồng (P đã gian dối chiếm đoạt 1.000.000 đồng) nên đến Công an xã B trình báo sự việc. Qua xác minh, Công an xã B đã mời P về làm việc và P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên. (Các bút lục số 47-58, 59-63)
Vật chứng vụ án: 05 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại Huỳnh Thị Cẩm N
10 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 01 xe mô tô biển số 60G1-457.67 là phương tiện bị can sử dụng vào việc phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại Huỳnh Thị Cẩm N đã nhận lại số tiền bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì thêm.
Trước Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, bị cáo Trần P đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, lời khai bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đúng trình tự pháp luật có tại hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 39/CT-VKSLT ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Trần P về tội danh: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo điều khoản nói trên và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 174; điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Phi M án từ 07 (bảy) tháng đến 09 (chín) tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị cáo Trần P đã khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở xác định: Trần Phi là người có 01 tiền án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 02 lần bị kết án đều về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Các lần bị kết án trên P đều dùng thủ đoạn gian dối bằng cách giả vờ đổi tiền để chiếm đoạt tiền của bị hại. Với thủ đoạn trên, ngày 27/3/2024, tại ấp A, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai, P chuẩn bị số tiền 5.000.000 đồng (10 tờ mệnh giá 500.000 đồng) giả vờ đổi tiền chẵn lấy tiền lẻ rồi rút bớt tiền, chiếm đoạt của bị hại Huỳnh Thị Cẩm N số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng.
Hành vi của bị cáo Trần P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[2] Xét hành vi của bị cáo Trần P là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng chỉ vì lòng tham, muốn có tiền tiêu xài nhưng không phải lao động, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản, là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã có 01 tiền án và 02 lần bị Tòa án xét xử đều về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản với thủ đoạn tương tự, bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà tiếp tục phạm tội, cho thấy bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo hiện đã cao tuổi và đang bị nhiều bệnh (có giấy khám bệnh của bệnh viện). Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo tập trung cải tạo, rèn luyện để có thể trở thành một công dân tốt và để răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
[3] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Đối với Vật chứng vụ án: 05 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại Huỳnh Thị Cẩm N là đúng quy định pháp luật.
Đối với số tiền 5.000.000 đồng (10 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng) và 01 xe mô tô biển số 60G1-457.67 bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại Huỳnh Thị Cẩm N đã nhận lại số tiền bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Về tính hợp pháp của các quyết định, hành vi tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều được thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 174; điểm s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên bố bị cáo Trần P phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần P 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Tịch thu số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng (Theo giấy nộp tiền mặt ngày 22/01/2025 tại Kho bạc Nhà nước huyện L) và 01 xe mô tô biển kiểm soát 60G1-457.67, số máy JF51E0884684, số khung RLHJ5139GZ305589 (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành) sung vào Ngân sách Nhà nước .
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
Nguyễn Văn Phước Mai Thị Huệ | Nguyễn Hữu Ngọc |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Đồng Nai;
- - VKSND H. Long Thành;
- - Chi cục THA DS H. Long Thành;
- - Bộ phận HS nghiệp vụ CAH. Long Thành;
- - Bị cáo; bị hại;
- - Lưu HS, VP.
Nguyễn Hữu Ngọc
Bản án số 46/2025/HSST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH – TỈNH ĐỒNG NAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 46/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH – TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Phi phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
