|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13-ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2025/HS-ST Ngày 30-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Chức
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Tấn Lãm
Ông Trương Sáng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thúy Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 13 – Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Đồng Nai tham gia phiên
tòa: Bà Huỳnh Thị Dạ Thảo - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Hải L; Sinh năm: 1999, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: ấp A, xã T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Cha: Lê Hải N, sinh năm 1977; Mẹ: Lương Lệ N1, sinh năm 1982; Bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Điểu Thị T; Bị cáo và Điểu Thị T đã có với nhau 01 (mộ) người con chung sinh năm 2023 và hiện chị T đang mang 01 (một) thái nhi 04 (bốn) tháng tuổi
Tiền án: Ngày 24/5/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13, tỉnh Đồng Nai) xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” (tại Bản án số 35/2024/HSST), đã chấp hành xong, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 09/10/2025 cho đến nay có mặt tại phiên tòa
Bị hại: Bà Điểu Thị T, sinh năm 2004, địa chỉ: Ấp M, xã H, tỉnh Đồng Nai ( vắng mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Điểu Thị H, sinh năm 1979, địa chỉ: Ấp M, xã H, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt)
- Bà Điểu Thị N2, sinh năm 2006, địa chỉ: Ấp M, xã H, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Hải L, sinh năm 1999 và Điểu Thị T, sinh năm 2004; Nơi cư trú: ấp M, xã H, tỉnh Đồng Nai chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2021 và có 01 con chung. Khoảng 20 giờ ngày 13/8/2025, L đi bộ từ nhà mình đến nhà của T để thăm con. Khi đến nơi, thấy không có T ở nhà và phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Yamha, số loại Sirius màu xám đen, biển số 93G1-298.04 để trong nhà bếp nên L nảy sinh ý định lấy trộm để bán lấy tiền tiêu xài. Ngay sau đó L đẩy xe mô tô đi đến cuối vườn điều đối diện nhà T để cất giấu rồi đi bộ về nhà lấy cây kéo quay lại để phá khoá xe mô tô. Sau khi phá khoá xe mô tô, L tháo biển số xe rồi ném biển số cùng với cây kéo xuống lòng hồ thuỷ điện C. Lúc này, L điều khiển xe mô tô lấy trộm được về nhà thuộc ấp A, xã T, tỉnh Đồng Nai cất giấu phía sau nhà. Sau khi phát hiện xe mô tô bị mất, T đến trình báo tại Cơ quan CSĐT theo thẩm quyền.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 317/KL-HĐĐGTS ngày 09/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Đồng Nai, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám đen, biển số 93G1-298.04, tại thời điểm ngày 13/8/2025 có trị giá: 8.700.000 đồng.
Bản cáo trạng số 18/CT-VKSKV13 ngày 10/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 – Đồng Nai truy tố bị cáo Lê Hải L về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
+ Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lê Hải L phạm tội “Trộm cắp tài sản”
+ Áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015. Đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo Lê Hải L từ 01 (một) năm 09 tháng tù đến 02 (hai) năm tù.
- Đề nghị xử lý vật chứng và các vấn đề khác như cáo trạng đã công bố.
Bị cáo không tham gia tranh luận và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 – Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị báo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về nội dung vụ án: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 13/8/2025, Lê Hải L lén lút trộm cắp tài sản là 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám đen, biển số 93G1-298.04 của chị Điểu Thị T, trị giá tài sản là 8.700.000 (tám triệu bảy trăm nghìn) đồng
Cáo trạng số: 18/CT-VKSKV13 ngày 10/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 – Đồng Nai và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo Lê Hải L là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất mức độ của hành vi: Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo L là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội. Trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm và bị pháp luật ngăn cấm nhưng bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng; Giảm nhẹ:
+ Về tình tiết tăng nặng: Ngày 24/5/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13, tỉnh Đồng Nai) xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” (tại Bản án số 35/2024/HSST), đã chấp hành xong nhưng chưa được xóa án tích. Ngày 13/8/2025 bị can tiếp tục phạm tội. Xét đây là tình tiết tăng nặng thuộc trường hợp “Tái phạm”, quy định tại điểm h, khoản 1 điều 52 BLHS, sửa đổi, bổ sung năm 2025
+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử cần xem xét để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám đen, không biển số, do Điều Thị T1 đứng tên sở hữu nên trả lại cho bà T1 là có căn cứ
- Đối với 01 biển số xe 93G1-298.04 và 01 cây kéo, Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Đ đã truy tìm không thu hồi được nên không đề cập xử lý là có căn cứ
[6]. Trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đề cập là có căn cứ
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố: bị cáo Lê Hải L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38; Điều 17 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Lê Hải L 01 (một năm) 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 09/10/2025.
[2] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS, Điều 106 của BLTTHS tuyên:
Trả lại cho bà Điểu Thị T 01(một) xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám đen, không biển số, do bà Điểu Thị T1 đứng tên
[3]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức, thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, và lệ phí Tòa án.
Bị cáo: Lê Hải L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND khu vực 13-Đồng Nai; - Phân trại tạm giam khu vực Bù Đốp, Công an tỉnh Đồng Nai; - Phòng THADS khu vực 13- Đồng Nai; - Bị cáo; - Lưu. |
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Lâm Thị Chức |
Bản án số 46/2025/HS-ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 46/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HÌNH SỰ
