Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10- NINH BÌNH


Bản án số: 46/2025/HS-ST
Ngày: 29- 12- 2025
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10- NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Thị Lan;

Ông Lê Văn Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mừng- Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10- Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ Toà án nhân dân khu vực 10- Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:

Phạm Văn Đ, sinh ngày 12-9-1975 tại xã G, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Xóm T, xã G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đôn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1955; có vợ là Tô Thị H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 29-8-2025 đến ngày 07-9-2025, chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3- Công an tỉnh N; “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 20 phút ngày 29-8-2025, Tổ công tác Công an xã G làm nhiệm vụ tại khu vực đường bộ ven biển thuộc xóm T, xã G, tỉnh Ninh Bình phát hiện Phạm Văn Đ đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18G1-305.27 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, Tổ công tác phát hiện trong túi áo ngực bên trái phía trước của Đ đang mặc có 01 gói nhỏ, bên ngoài gói bằng giấy vở học sinh, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. Đ khai nhận đó là H1, cất giấu với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng được niêm phong ký hiệu D1.

Tại Bản kết luận giám định số 817/KL-KTHS ngày 06-9-2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng, khối lượng 0,130 gam, là ma túy, loại Heroine (H).

Bản Cáo trạng số 17/CT-VKS-KV10 ngày 05- 12- 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10- Ninh Bình đã truy tố bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy Heroin hoàn trả mẫu vật sau giám định; trả lại cho Phạm Văn Đ 01 điện thoại di động Viettel trong có gắn thẻ sim.

Bị cáo không tranh luận, thừa nhận hành vi phạm tội, tỏ rõ sự ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10-Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nên các hành vi, quyết định tố tụng là hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 29-8-2025, Phạm Văn Đ đã có hành vi cất giấu trái phép 0,13 gam Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân.

[3] Hành vi của bị cáo Phạm Văn Đ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy; đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù trong khung hình phạt, đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[7] Về xử lý vật chứng: Số Hêroin thu giữ là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp. Chiếc điện thoại di động V bị cáo sử dụng liên lạc cá nhân nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

[8]Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự theo quy định.

[9]Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà nên có quyền kháng cáo theo quy định trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Đ 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29-8-2025.
  2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy Heroin hoàn trả mẫu vật sau giám định trong túi niêm phong mã số PS3 24266886 của Phòng K Công an tỉnh N; trả lại cho Phạm Văn Đ 01 điện thoại di động trong có gắn thẻ sim. (Chi tiết theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 10026/21 ngày 16- 12- 2025 lập tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10- Ninh Bình).
  3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; buộc bị cáo Phạm Văn Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Căn cứ Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo Phạm Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- Trại tạm giam số 3, CA tỉnh Ninh Bình;
- VKSND khu vực 10- Ninh Bình;
- VKSND tỉnh Ninh Bình;
- Cơ quan Cảnh sát điều tra CA tỉnh Ninh Bình;
- Cơ quan THAHS CA tỉnh Ninh Bình;
- Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Vũ Ngọc Duyên
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của Toà án nhân dân khu vực 10- Ninh Bình về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 46/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 10- Ninh Bình
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger