|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2025/HS-ST Ngày: 26-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà
Các hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Đặng Văn Minh
- 2. Ông Nguyễn Thanh Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Văn Thanh là Thư ký viện của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Sang - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 33/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Văn T, T1 gọi khác: Ba R, sinh năm: 1998 tại Bình Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: Thôn E, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn M (đã chết) và bà Trần Thị B, sinh năm 1973 hiện đang ở Thôn E, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền sự: Không;
Tiền án: Ngày 06/8/2019, Lê Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xử phạt 03 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS, tại Bản án số 57/2019/HSST, chấp hành xong hình phạt từ ngày 05/12/2021.
- Ngày 15/02/2023, Lê Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 249 BLHS, tại Bản án số 21/2023/HSST, chấp hành xong hình phạt từ ngày 02/5/2024 (chưa xóa án tích).
Nhân thân: Ngày 09/9/2014, Lê Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS, tại Bản án số 73/2014/HSST, chấp hành xong hình phạt từ ngày 05/12/2015 (đã xóa án tích).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/10/2024 trong một vụ án khác, hiện đang tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực H, công an tỉnh B. (Bị cáo có mặt tại phiên toà)
Những người tham gia tố tụng:
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn L - Sinh năm 1998.
Địa chỉ: Thôn U, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận (Vắng mặt).
Người tham gia tố tụng khác: Ông Nguyễn Đình T2 – Cán bộ Toà án hổ trợ tổ chức phiên toà tại điểm cầu thành phần.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 23/10/2024, Tổ công tác Công an xã H phối hợp với Công an xã H truy tìm Lê Văn T (B), sinh năm 1998, trú tại thôn E, xã H do nghi vấn có liên quan đến vụ trộm cắp tài sản và đang ở tại nhà của Nguyễn Văn L, sinh năm 1998, trú tại thôn U, xã H, cùng huyện H. Khi thấy tổ công tác đến, T đã bỏ chạy và ném 01 khẩu trang màu trắng xuống nền nhà vệ sinh thì bị tổ công tác kiểm tra, phát hiện bên trong khẩu trang có 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có khóa kéo một đầu màu đỏ, kích thước khoảng (04 x 7,2)cm, bên trong có chứa 02 gói nylon gồm: (01 gói nylon không màu, được hàn kín, có khóa kéo một đầu màu đỏ, kích thước (04 x 7,2)cm và 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có khóa kéo một đầu màu trắng, kích thước (6,7 x 4,3)cm, bên trong 02 gói nylon đều chứa chất tinh thể màu trắng. T khai nhận tinh thể màu trắng có trong 02 gói nylon là ma túy đá do T mua về để sử dụng. Tổ công tác đưa T cùng các tang vật về trụ sở Công an xã H để làm việc.
Về số ma túy bị tạm giữ, Lê Văn T khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên tối ngày 22/10/2024, Lê Văn T đón xe buýt đi xuống Siêu thị C, sau đó T đón xe ôm qua khu vực chợ P, thuộc phường P, thành phố P gặp một người đàn ông tên T3 (không rõ nhân thân) mua 800.000 đồng ma túy đá để về sử dụng. Sau khi mua ma túy xong, T gói vào 01 gói nylon không màu được hàn kín, có khóa kéo một đầu màu đỏ, kích thước khoảng (04 x 7,2)cm, bên trong có chứa 02 gói nylon gồm: (01 gói nylon không màu, được hàn kín, có khóa kéo một đầu màu đỏ, kích thước (04 x 7,2)cm và 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có khóa kéo một đầu màu trắng, kích thước (6,7 x 4,3)cm vào trong khẩu trang, sau đó cất giấu ma tuý trên trong người và đi về lại nhà ở thôn E, xã H. Sau khi về nhà, T lấy ra một ít ma tuý để sử dụng một mình, số ma tuý còn lại T cất giấu. Đến khoảng 10 giờ sáng ngày 23/10/2024, T đem theo số ma túy trên đến nhà của Nguyễn Văn L (bạn của T) chơi và sạc nhờ điện thoại. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Tổ công tác Công an xã H đến kiểm tra, khi phát hiện tổ công tác, T bỏ chạy ra nhà vệ sinh nhà L và ném 01 khẩu trang màu trắng, bên trong chứa ma túy thì bị tổ công tác phát hiện và thu giữ như trên.
Tại bản kết luận giám định số 1434/KL-KTHS ngày 14/11/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:
- - Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 1,9742 gam, là Methamphetamine.
- - Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 1,1235 gam, là Methamphetamine.
Vật chứng trong vụ án:
01 gói nylon không màu, được hàn kín, một đầu có khóa kéo màu đỏ, kích thước khoảng (04 x 7,2)cm; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, một đầu có khóa kéo màu đỏ, kích thước khoảng (04 x 7,2)cm, đã cắt lấy mẫu; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, một đầu có khóa kéo màu trắng, kích thước khoảng (6,7 x 4,3)cm, đã cắt mẫu; 1,9029 gam mẫu M1 và 1,0537 gam mẫu M2 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH SỐ 1434 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng T4 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B và 01 khẩu trang y tế màu trắng là những vật chứng của vụ án. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã ra Quyết định chuyển vật chứng, chuyển từ Cơ quan CSĐT - Công an huyện H đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc bảo quản, chờ xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 34/CT-VKSHTB ngày 11/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS. Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của VKSND huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố và thống nhất với các điều khoản mà VKSND huyện Hàm Thuận Bắc đã viện dẫn trong Cáo trạng.
Đại diện VKSND huyện Hàm Thuận Bắc giữ quyền công tố luận tội và tranh luận đã phân tích hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 05 (năm) năm tù đến 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù.
* Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đồng ý với nội dung, tội danh mà Cáo trạng của VKSND huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố, thống nhất với mức hình phạt mà đại diện VKSND huyện Hàm Thuận Bắc đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng Nguyễn Văn L đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, không gây trở ngại cho việc xét xử; đồng thời bị cáo đồng ý và Kiểm sát viên đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, đã có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 23/10/2024, Tổ công tác Công an xã H phối hợp với Công an xã H kiểm tra nhà của Nguyễn Văn L, ở thôn U, xã H, huyện H, phát hiện Lê Văn T đang có hành vi cất giấu 01 gói nylon không màu được hàn kín, có khóa kéo một đầu màu đỏ, kích thước khoảng (04 x 7,2)cm, bên trong có chứa 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có khóa kéo một đầu màu đỏ, kích thước (04 x 7,2)cm và 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có khóa kéo một đầu màu trắng, kích thước (6,7 x 4,3)cm, bên trong đều chứa ma tuý đá, được cất giấu bên trong khẩu trang màu trắng. Tổng khối lượng ma tuý qua giám định là 3,0977 gam, là Methamphetamine, T cất giấu nhằm mục đích để sử dụng.
Tại các biên bản ghi lời khai của bị cáo; biên bản hỏi cung; lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều thống nhất hành vi của bị cáo đúng như cáo trạng đã nêu.
Tại Kết luận giám định số 1434/KL-KTHS ngày 14/11/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B xác định: 01 gói nylon không màu được hàn kín, một đầu có khoá kéo màu đỏ, kích thước khoảng (04 x 7,2)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng được ký hiệu là M1: Có khối lượng là 1,9742gam, là Methamphetamine; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, một đầu có khoá kéo màu trắng, kích thước khoảng (6,7 x 4,3)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng được ký hiệu là M2: Có khối lượng là 1,1235gam, là Methamphetamine.
Bị cáo Lê Văn T tàng trữ trái phép (1,9742 + 1,1235) gam Methamphetamine để sử dụng, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo xâm phạm khách thể được Luật Hình sự bảo vệ là chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo đã phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tái phạm nguy hiểm, đây là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất Ma túy” quy định tại Điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, không oan.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung Cáo trạng, đồng thời xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị: Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1; Điều 51; Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 05 (năm) năm tù đến 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù là phù hợp và có căn cứ. Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định khi lượng hình với bị cáo.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết rõ ma tuý là hiểm họa của con người và xã hội, tệ nạn ma túy không những xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, mà còn là nguyên nhân sản sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Mặc dù bị cáo nhận thức rõ điều này, nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo T đã bất chấp hậu quả, bất chấp pháp luật, tàng trữ ma túy để sử dụng. Bản thân bị cáo đã từng hai lần bị kết án, trong đó có một lần bị xét xử về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, nhưng không lấy đó làm bài học cho chính bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần thiết phải dành cho bị cáo với mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để răn đe đối với bị cáo, cũng như thông qua đó phòng ngừa tội phạm chung, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian cải tạo, cũng như rèn luyện, tu dưỡng bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Không có.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Đối với đối tượng tên T3 ở khu vực chợ P đã bán ma túy cho T vào tối ngày 20/10/2024 và người xe ôm chở toàn đi mua ma tuý hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan chức năng tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau là đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Văn L không giúp sức và không biết việc Lê Văn T đem số ma túy trên đến nhà nên không đồng phạm với T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ nên, Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về vật chứng vụ án:
- - 01 gói nylon không màu, được hàn kín, một đầu có khóa kéo màu đỏ, kích thước khoảng (04 x 7,2)cm; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, một đầu có khóa kéo màu đỏ, kích thước khoảng (04 x 7,2)cm, đã cắt lấy mẫu; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, một đầu có khóa kéo màu trắng, kích thước khoảng (6,7 x 4,3)cm, đã cắt mẫu; 1,9029 gam mẫu M1 và 1,0537 gam mẫu M2 còn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- - 01 khẩu trang y tế màu trắng, đây là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T (Tên gọi khác: B) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T (Tên gọi khác: Ba R) 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng: Khoản 1 Điều 46; Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 gói nylon không màu, được hàn kín, một đầu có khóa kéo màu đỏ, kích thước khoảng (04 x 7,2)cm; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, một đầu có khóa kéo màu đỏ, kích thước khoảng (04 x 7,2)cm, đã cắt lấy mẫu; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, một đầu có khóa kéo màu trắng, kích thước khoảng (6,7 x 4,3)cm, đã cắt mẫu; 1,9029 gam mẫu M1 và 1,0537 gam mẫu M2 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH Số 1434 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng T4 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B và 01 khẩu trang y tế màu trắng là những vật chứng của vụ án. Vật chứng hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/3/2025).
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Hà |
Bản án số 46/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 46/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CNTT
