Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HS-ST

Ngày 25-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hữu Trường
Thẩm phán: Bà Trần Thị Vân Thuý

Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Nam Tuấn
Ông Phạm Mạnh Hùng
Ông Đỗ Xuân Quyết

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Vũ Hoàng Trường - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Bùi Đức T, sinh ngày 22/12/1989 tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Số A đường T, phường V, quận L, Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số A đường T, phường V, quận L, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Bùi Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị X; có vợ Bùi Phương A (đã ly hôn) và có 01 con, tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 22/2015/HS-ST ngày 09/7/2015 Tòa án nhân dân quận Hải An, Hải phòng xử 18 tháng Cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc (đã được xóa án tích); bị tạm giữ từ ngày 04/6/2024, chuyển tạm giam ngày 12/6/2024, có mặt;

2. Hoàng Văn H1; sinh ngày 23/10/1998 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số G đường P, phường N (nay là phường A), quận L, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Hoàng Văn Đ và bà Ngô Thị T1; có vợ Trịnh Thị H2 và 02 con, tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 03/6/2024, chuyển tạm giam ngày 12/6/2024, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo T: Luật sư Cao Mạnh H3 - Văn Phòng L1, Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 45 phút ngày 03/6/2024, tại khu vực ngõ B L, quận N, Hải Phòng, Công an quận N bắt quả tang Hoàng Văn H1 có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm có: 01 túi nilon trắng kích thước (04x06)cm chứa tinh thể trắng (mẫu QT1), 01 túi nilon trắng kích thước (04x06)cm chứa tinh thể trắng (mẫu QT2), 02 gói nilon màu đỏ kích thước (05x07)cm trên có chữ Ferrari (mẫu QT3). Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ của H1 01 xe môtô nhãn hiệu Ari Blade màu trắng BKS 15B3-116.23, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS MAX màu vàng.

Xét hỏi, Hoàng Văn H1 khai nhận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 03/6/2024, H1 nhận được điện thoại của N (khách mua ma túy của H1, H1 không biết cụ thể họ tên địa chỉ của N) hỏi mua 02 gói ma túy nước vui và 01 gam Ketamine. H1 và N thỏa thuận 01 gói nước vui giá 2.500.000 đồng, 01 gam Ketamine giá 1.000.000 đồng và hẹn giao dịch tại khu vực ngõ B L. H1 điều khiển xe mô tô Air Blade BKS 15B3-116.23 đến nhà Bùi Đức T tại địa chỉ số A T, phường V, quận L, Hải Phòng mua ma túy. H1 mua của T 02 gói nước vui với giá 1.900.000 đồng/gói và 02 gói Ketamine với giá 750.000 đồng/gói, tổng số tiền H1 phải trả cho T là 5.300.000 đồng, số tiền này H1 nợ T chưa trả. H1 cho 02 gói nước vui và 01 gói Ketamine vào trong một phong bì cất ở túi quần sau để bán cho N, còn 01 gói Ketamine Hiếu để trong bao thuốc lá cất trong túi quần phía trước để gặp khách thì bán. H1 đi đến khu vực ngõ B L gặp N để giao ma túy như đã hẹn, nhưng chưa kịp gặp N thì H1 bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Ngoài ra H1 còn khai nhận H1 đã mua ma túy của T nhiều lần. Ngày 30/5/2024, H1 mua của T 03 gam Ketamine loại Kim tuyến với giá 1.000.000 đồng/gam. Chỉ trong ngày 02/6/2024, H1 mua của T 09 lần, cụ thể: Lúc 0h45 phút, H1 mua của T 01 gam Ketamine loại Đường đá và 01 viên thuốc lắc màu xám trên có chữ Shadow với giá 950.000 đồng nhưng T chỉ lấy của T2 900.000 đồng; lúc 09h24 phút, H1 mua của T 02 gói nước vui loại Ferari với giá 3.800.000 đồng; lúc 10h46 phút, H1 mua của T 01 gói nước vui loại Ferari với giá 1.900.000 đồng; lúc 14h16 phút, H1 mua của T 02 gói nước vui loại Ferari với giá 3.800.000 đồng; lúc 18h00 phút H1 mua của T 01 gói nước vui loại Ferari với giá 1.900.000 đồng, 01 gam Ketamine với giá 750.000 đồng; lúc 21h, H1 mua của T 01 gói nước vui loại Ferari với giá 1.900.000 đồng; lúc 22h56 phút, H1 mua của T 03 gam Ketamine loại Đường đá và 05 viên thuốc lắc màu xám trên có chữ Shadow với giá 3.150.000 đồng; lúc 22h59 phút, H1 mua của T 01 gam Ketamine loại Kim tuyến giá 1.000.000 đồng; lúc 23h30 phút, H1 mua của T 1,3 gam Ketamine loại Kim tuyến giá 1.300.000 đồng. Trong ngày 03/6/2024, trước khi bị bắt, H1 còn mua của T thêm 01 lần vào lúc 16h56 phút, H1 mua của T 01 gam Ketamine loại Đường đá với giá 750.000 đồng. Các lần mua bán này, trừ lần bị bắt quả tang H1 nợ tiền mua ma túy của T, H1 đều đã thanh toán đủ tiền mua ma túy cho T bằng hình thức chuyển khoản, giao dịch ma túy được thực hiện tại nhà ở của T tại số A T, phường V, quận L, Hải Phòng.

Về hành vi bán ma túy, H1 khai H1 đã bán ma túy cho nhiều người, trong đó có người tên là N và Phương A. H1 mua của T 180.000 đồng/viên thuốc lắc, bán cho khách với giá 250.000 đồng/viên, H1 hưởng lãi là 70.000 đồng/viên; H1 mua của T 1.900.000 đồng/gói nước vui, bán cho khách với 2.500.000 đồng/gói H1 hưởng lãi là 600.000 đồng/gói; H1 mua của T 750.000 đồng/gam Ketamine loại Đường đá, bán cho khách với giá 1.000.000 đồng/gam, H1 hưởng lãi 250.000 đồng/gam; H1 mua của T 1.000.000 đồng/gam Ketamine loại Kim tuyến, bán cho khách với giá 1.200.000 đồng/gam, H1 hưởng lãi 200.000 đồng/gam.

Ngày 30/5/2024, H1 bán cho Đỗ Thị Phương A1 03 gam Ketamine loại Kim tuyến với giá 1.200.000 đồng/gam, tổng số tiền Phương A2 trả cho H1 là 3.600.000 đồng. Phương A2 đã thanh toán đủ cho H1 qua chuyển khoản, giao dịch ma túy thực hiện tại khu chung cư gần cầu vượt L, quận N, Hải Phòng. Ngoài lần bán ma túy cho đối tượng có tên là N và bị bắt quả tang, H1 khai còn bán cho N 1,1 gam Ketamine loại Đường đá với giá 1.100.000 đồng và 01 gói ma túy nước vui loại Ferrari với giá 2.500.000 đồng lúc 19h00 phút ngày 02/6/2024, N đã trả H1 bằng tiền mặt tổng số tiền là 3.600.000 đồng, giao dịch ma túy thực hiện tại khu vực ngõ B L, quận N, Hải Phòng.

Cơ quan điều tra giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Bùi Đức T và tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Đức T. Vật chứng thu giữ trong quá trình khám xét gồm có: 44 túi nilon màu trắng kích thước (04x06)cm bên trong các túi đều chứa tinh thể màu trắng (mẫu KX1), 01 túi nilon kích thước (05x07)cm bên trong các túi đều chứa tinh thể màu trắng (mẫu KX2), 07 gói nilon màu xanh kích thước (06x09)cm bên trên có chữ YAO YAO bên trong chứa bột (mẫu KX3), 01 gói nilon màu đỏ kích thước (06x09) bên trên có chữ Ferari bên trong chứa chất bột (mẫu KX4), 01 gói nilon màu trắng kích thước (09x13)cm bên trong chứa 79 viên nén màu xám, trên viên nén có chữ SHADOW và 02 mảnh viên nén màu xám (mẫu KX5), 01 túi nilon màu trắng kích thước (04x06)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (mẫu KX6), 01 túi nilon màu trắng kích thước (05x08)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (mẫu KX7), 01 túi nilon màu trắng kích thước (08x13)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (mẫu KX8), 01 túi nilon màu trắng kích thước (04x07)cm bên trong chứa 02 viên nén màu xám, trên viên nén có chữ SHADOW (mẫu KX9A), 01 túi nilon màu trắng kích thước (04x06)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (mẫu KX9B), 01 hộp trụ tròn đường kính cao 08 cm đựng vật khô vụn (mẫu KX10). Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của Bùi Đức T 01 cối xay hình trụ tròn đen cao 3,5cm đường kính 4cm, 01 tập giấy hình chữ nhật màu nâu kích thước (02x06)cm, 01 hộp giấy kích thước (02x07)cm trên có chữ ROLLIES, 01 cân điện tử màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Readme màu xanh, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Pro màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, 01 CCCD số [...] mang tên Hoàng Văn H1, 30 vỏ túi nilon kích thước (04x06)cm, 50 vỏ túi nilon kích thước (05x07)cm, 03 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn lại.

Bản Kết luận giám định số 657/KL-KTHS(MT) ngày 10/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H và Kết luận giám định số 6936/KL-KTHS ngày 18/9/2024 của V - Bộ C kết luận thể hiện : Tinh thể màu trắng của mẫu QT1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,81 gam, là loại Ketamine ; Tinh thể màu trắng của mẫu QT2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,86 gam, là loại Ketamine ; Tinh thể màu trắng của mẫu QT3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 8,72 gam, là loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine, N1; Tinh thể màu trắng của mẫu KX1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 37,52 gam, là loại Ketamine ; Tinh thể màu trắng của mẫu KX2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,83 gam, là loại Ketamine; Chất bột của mẫu KX3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 50,61 gam, là loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam; Chất bột của mẫu KX4 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 4,2 gam, là loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine, N1 ; Các viên nén của mẫu KX5 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 42,08 gam, là loại MDMA ; Tinh thể màu trắng của mẫu KX6 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,76 gam, là loại Ketamine ; Tinh thể màu trắng của mẫu KX7 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 27,01 gam, là loại Ketamine ; Tinh thể màu trắng của mẫu KX8 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 15,96 gam, là loại Ketamine Các viên nén của mẫu KX9A gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,98 gam, là loại MDMA ; Tinh thể màu trắng của mẫu KX9B gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,88 gam, là loại Ketamine ; Thực vật của mẫu KX10 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,67 gam, là loại Cần sa.

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Đức T khai nhận việc bán ma túy cho Hoàng Văn H1 nhiều lần vào các ngày 02 đến 03/6/2024 phù hợp với lời khai của H1 nêu trên. Giao dịch ma túy thực hiện tại nơi ở của T tại số A T, phường V, quận L, Hải Phòng. Hầu hết các lần mua bán ma túy, H1 đều chuyển khoản cho T, một số lần H1 trả T bằng tiền mặt.

Về nguồn gốc của các loại ma túy của T, T khai T mua của một người tên là T2 qua mạng xã hội B (T không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể của T2). Toàn bộ số ma túy mua của T2, T khai đều mua với mục đích để bán cho khách kiếm lời. Cụ thể: T mua 1.700.000 đồng/gói nước vui, bán cho khách với giá 1.900.000 đồng/gói (đồng giá cho cả 02 loại Ferrari và JAO JAO), T hưởng lãi 200.000 đồng/gói; T mua 160.000 đồng/viên thuốc lắc, T bán cho khách với giá 180.000 đồng, T hưởng lãi 20.000 đồng/viên; T mua 500.000 đồng/gam Ketamine loại Đường đá, bán cho khách với giá 750.000 đồng/gam, T hưởng lãi 250.000 đồng/gam ; T mua 630.000 đồng/gam Ketamine loại Kim tuyến, bán cho khách với giá 1.000.000 đồng/gam, T hưởng lãi 370.000 đồng/gam. T đã mua của T2 nhiều lần, nhưng chỉ nhớ 03 lần gần nhất vào ngày 20/5/2024, 27/5/2024 và 30/5/2024, Cụ thể:

Ngày 20/5/2024 T mua của T2 10 gói nước vui (loại Ferrari) với giá 1.700.000 đồng/gói và 50 gam Ketamine loại Đường đá với giá 500.000 đồng/gam, tổng số tiền mua ma túy là 42.000.000 đồng, T trả trước cho T2 25.000.000 đồng, nợ lại T2 17.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T mang về chỗ ở tại số A T, phường V, quận L, Hải Phòng, chia Ketamine thành 50 gói nhỏ kích thước (04x06)cm và 01 gói kích thước (05x07)cm, T bán cho khách mua với giá 750.000/gói Ketamine đối với 51 gói nhỏ này, T lãi 250.000 đồng/gói. Số Ketamine còn lại T vẫn để trong túi nilon kích thước (08x13)cm như lúc đầu nhận hàng, dự định nếu có khách mua nhiều Ketamine hơn sẽ lấy từ gói kích thước (08x13)cm này chia để bán tiếp. Nước vui loại Ferari T mua 1.700.000 đồng/gói, T bán cho H1 và khách mua là 1.900.000 đồng/gói, T được lãi 200.000 đồng/gói.

Ngày 27/5/2024, T mua của T2 90 viên thuốc lắc màu xám trên có chữ Shadow với giá 160.000 đồng/viên, 10 gói nước vui màu xanh bên trên túi có in chữ YAO YAO với giá 1.700.000 đồng/gói, 27 gam Ketamine loại Kim tuyến với giá 630.000 đồng/gam, tổng số tiền T phải trả cho T2 là 48.400.000 đồng, T trả trước cho T2 40.000.000 đồng, cộng nợ với ngày 20/5/2024, T còn nợ lại T2 25.400.000 đồng.

Ngày 30/5/2024, T mua của T2 20 gam Ketamine loại Đường đá với giá 500.000 đồng/gam và được T2 cho 05 viên thuốc lắc màu xám trên có chữ Shadow, 05 viên thuốc lắc này T dùng để bán, không sử dụng. Tổng số tiền T trả cho T2 là 10.000.000 đồng.

Về phương thức giao dịch ma túy và phương thức thanh toán tiền cả 03 lần giao dịch với T2, T khai: T2 gọi cho T qua ứng dụng Bigo, qua màn hình, T2 giới thiệu cho T một người giao hàng và nhận tiền (T không rõ tên tuổi địa chỉ của người này). T nói địa chỉ của T cho T2 và người giao hàng, hướng dẫn người giao hàng để ma túy vào thùng rác dưới gốc cây gần nhà T, sau khi lấy được ma túy, T mang về nhà tại số A T, phường V, quận L, Hải Phòng, kiểm tra đủ số lượng chủng loại ma túy đã đặt mua với T2, gọi điện cho tiến qua ứng dụng Bigo thống nhất số tiền thanh toán từng đợt và chốt số tiền còn nợ lại với T2. Sau đó, T cho số tiền thanh toán vào túi nilon mang ra bỏ vào thùng rác dưới gốc cây như thỏa thuận ban đầu, đứng chờ người giao hàng lấy tiền mang đi thì T mới đi về nhà.

Đối với 3,67 gam Cần sa thu giữ tại nhà của T, xét hỏi, T khai vào ngày 28/5/2024, T mua 04 gam Cần sa của một người đàn ông không quen biết ở khu vực đường T, quận L, Hải Phòng với giá 250.000 đồng/gam, dự định bán cho khách với giá 300.000 đồng/gam, T sẽ hưởng lãi là 50.000 đồng/gam. Sau khi mua được Cần sa, T đã sử dụng một ít, chưa kịp bán cho ai thì T bị bắt.

Về hành vi bán ma túy, T khai T đã bán cho nhiều đối tượng nhưng không nhớ cụ thể, chỉ nhớ ngoài những lần bán Hoàng Văn H1 nêu trên, T còn bán cho đối tượng có tên Nguyễn Duy T3 Lâm 1,1 gam Ketamine loại Kim tuyến với giá 1.100.000 đồng vào lúc 01h56 phút ngày 03/6/2024. L đã thanh toán đủ cho T qua chuyển khoản, giao dịch ma túy thực hiện tại chân cầu vượt L, quận N, Hải Phòng. T còn bán cho khách một số gói nước vui màu xanh bên trên túi có in chữ YAO YAO với giá 1.700.000 đồng/gói, nhưng T không nhớ bán cho ai và cụ thể là bao nhiêu gói nước vui.

Xét nghiệm nước tiểu, bị can Hoàng Văn H1 dương tính với Ketamine, Bùi Đức T dương tính với Ketamine và THC.

Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKS-P1 ngày 21/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Bùi Đức T về tội Mua bán trái phép ma túy theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự, bị cáo Hoàng Văn H1 về tội Mua bán trái phép ma túy theo quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo Bùi Đức T và Hoàng Văn H1 khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, việc truy tố, xét xử các bị cáo là không oan và bị cáo ăn năn hối hận về hành vi của bản thân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm h khoản 4 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt: Bùi Đức T 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị phạt tiền đối với bị cáo từ 20.000.000 - 30.000.000 đồng;

Căn cứ điểm b, p khoản 2 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn H1 từ 13 năm 06 tháng đến 14 năm tù. Đề nghị phạt tiền đối với bị cáo từ 10.000.000 - 20.000.000 đồng.

Tịch thu tiêu huỷ: Số ma túy còn lại sau giám định và các đồ vật khác có liên quan đến việc phạm tội. Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án. Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền đã thu của bị cáo.

Về án phí và quyền kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo T nêu quan điểm: Đồng ý với tội danh và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như Viện kiểm sát đã đề nghị. Tuy nhiên đề nghị Tòa án xem xét các tình tiết giảm nhẹ, bản thân bị cáo đã từng tham gia quân ngũ, mẹ bị cáo cũng tham gia kháng chiên (là thanh niêm xung phong), hiện tại điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn mức án VKS đề nghị; đề nghị xem xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội, bị cáo T đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà và tại Cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Từ ngày 20/5/2024 đến ngày 30/5/2024, Bùi Đức T có hành vi mua và cất giấu trái phép 97 gam Ketamine; 95 viên thuốc lắc (qua giám định trung bình 01 viên là 0,525 gam MDMA, do đó 95 viên có khối lượng 49,886 gam MDMA), 10 túi nước vui nhãn hiệu Ferrari (qua giám định có khối lượng 6,97 gam Methamphetamine + MDMA và 35,83 gam Nimetazepam+Ketamine), 10 túi nước vui nhãn hiệu Jao Jao (qua giám định có khối lượng 1,734 gam Methamphetamine + MDMA và 70,565 gam Nimetazepam) và 3,67 gam Cần sa. Quy đổi theo Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ, tổng các chất ma túy nêu trên tương đương 125,994 gam MDMA + Methamphetamine và 3,67 gam Cần sa. T đã bán cho nhiều người nhằm mục đích kiếm lời, trong đó bán cho Hoàng Văn H1 là 12,97 gam Ketamine, 09 gói nước vui loại Ferrari, và 06 viên thuốc lắc (quy đổi theo Nghị định 19/2018/NĐ-CP tương đương 24,495 gam MDMA + Methamphetamine) và bán cho đối tượng Nguyễn Duy T3 Lâm 1,1 gam Ketamine. Số ma túy còn lại chưa kịp bán thì bị cơ quan Công an khám xét, thu giữ.

[2.1] Từ ngày 02/6/2024 đến ngày 03/6/2024, Hoàng Văn H1 đã có hành vi mua trái phép 12,97 gam Ketamine (13 gói Ketamine), 06 viên thuốc lắc (qua giám định trung bình 01 viên là 0,525 gam MDMA, do đó 06 viên có khối lượng 3,15 gam MDMA), 09 gói nước vui loại Ferrari (qua giám định gồm 6,273 gam Methamphetamine + MDMA và 32,247 gam Nimetazepam+Ketamine). Quy đổi theo Nghị định 19/2018/NĐ-CP tổng các chất ma túy nêu trên tương đương 24,495 gam MDMA + Methamphetamine. H1 đã bán cho nhiều người trong đó có đối tượng tên là N 02 lần vào các ngày 02/6/2024 và 03/6/2024 với khối lượng 1,91 gam Ketmine, 03 gói nước vui.

[2.2] Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Bùi Đức T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Hoàng Văn H1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[3] Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản và khung hình phạt là hoàn toàn đúng với quy định của pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự xã hội. Ma túy là tệ nạn xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người và là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác, hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo làm gia tăng tệ nạn ma túy do vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bùi Đức T phạm tội 02 lần trở lên nên phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, Hoàng Văn H1 có hành vi nhiều lần bán ma tuý, nhưng đây là tình tiết định khung hình phạt, nên bị cáo H1 không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo T từng tham gia quân ngũ, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về vai trò và hình phạt

[7] Đây là vụ án có hai bị cáo cùng thực hiện hành vi mua bán ma tuý, nhưng không phải đồng phạm. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đơn lẻ, nên vai trò của các bị cáo độc lập với nhau. Căn cứ tính chất vụ án và mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Bị cáo T mua bán nhiều lần, số lượng ma tuý hơn gần 125 gam MDMA+Methaphetamine, nên cần xử phạt bị cáo mức khởi điểm của khung hình phạt tại khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự cũng đủ răn đe, trừng trị bị cáo. Hoàng Văn H1 mua bán nhiều lần, số lượng ma tuý gần hết khối lượng ma tuý quy định tại khoản 2 Điều 251, nên cần xử phạt bị cáo mức án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[8] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo mua bán ma túy nhằm mục đích để thu lợi nên cần áp dụng mức hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định, Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định (thu của Bùi Đức T và Hoàng Văn H1) 01 cối xay hình trụ tròn đen cao 3,5cm đường kính 4cm, 01 tập giấy hình chữ nhật màu nâu kích thước (02x06)cm, 01 hộp giấy KT (02x07)cm trên có chữ ROLLIES, 01 cân điện tử màu đen, 30 vỏ túi nilon kích thước (04x06)cm, 50 vỏ túi nilon kích thước (05x07)cm cần tịch thu tiêu huỷ.

[9.1] Tich thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Readme màu xanh, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Pro màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; di động nhãn hiệu Iphone XS MAX màu vàng ; 03 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn lại.

[9.2] trả lại 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Hoàng Văn H1.

[9.3] Chiếc xe 01 xe mô tô nhãn hiệu Ari Blade màu trắng BKS 15B3-116.23 cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Về vấn đề khác

[10] Đối tượng mua ma túy của Hoàng Văn H1 có tên là N, đối tượng bán ma túy cho Bùi Đức T4 có tên là T2 và đối tượng nam giới giao ma túy cho T4, do H1 và T4 không cung cấp được tên tuổi địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở lập hồ sơ xử lý đối với các đối tượng trên.

[11] Đối tượng Nguyễn Duy Tùng L (sinh năm 1999, nơi ĐKHKTT: Tại thôn D, xã H, nay là phường H, thành phố T, Hải Phòng) là chủ tài khoản chuyển tiền mua ma túy của Bùi Đức T và đối tượng Đỗ Thị Phương A1 (sinh năm 1996, ĐKTT tại tổ I, phường N, thành phố L, tỉnh Lào Cai) là chủ tài khoản chuyển tiền mua ma túy của Hoàng Văn H1, tại thời điểm xác minh, Tùng L và Phương A1 hiện không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu, làm gì nên chưa ghi được lời khai của 02 đối tượng này. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H ra quyết định tách hồ sơ tài liệu liên quan đến các đối tượng trên tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau

[12] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[13] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm h khoản 4 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố Bùi Đức T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Bùi Đức T 20 (hai mươi) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giữ 04/6/2024.

Phạt tiền bị cáo Bùi Đức T 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng để sung ngân sách Nhà nước.

1. Căn cứ điểm b,p khoản 2 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố Hoàng Văn H1 phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Hoàng Văn H1 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giữ 03/6/2024.

2. Về vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

2.1. Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì giấy niêm phong số 675MT/PC09 của Phòng K - Công an thành phố H trên niêm phong có chữ ký của Phạm Hoàng H4, Nguyễn Trung H5, Bùi Văn H6, Đặng Quang A3, Hoàng Văn H1, Bùi Đức T; 01 bì giấy niêm phong số 6936/KL-KTHS của V trên niêm phong có chữ ký của Phạm Văn H7, Đinh Thị T5; 01 bao thuốc lá Thăng Long màu đỏ; 01 phong bì giấy; 01 hộp kim loại có kích thước khoảng 08 cm, đường kính miệng hộp khoảng 26 cm; 01 hộp kim loại hình trụ tròn cao khoảng 06 cm, đường kính miệng hộp khoảng 19 cm; 01 hộp nhựa hình trụ tròn cao khoảng 08 cm, đường kính miệng hộp khoảng 3,5 cm; 01 cối xay hình trụ màu đen cao khoảng 3,5cm, 01 tập giấy hình chữ nhật màu nâu, 01 hộp giấy kích thước 02x07 cm trên bề mặt có chữ ROLLIES, 01 cân điện tử màu đen, 30 vỏ túi nilon kích thước 04x06 cm, 50 vỏ túi nilon kích thước 05x07 cm.

2.3. Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi màu xanh có số IMEI 1: 865071042125794, số IMEI 2: 865071042125786; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xám có số IMEI 1: 358686415510589, số IMEI 2 : 358686415711161; 01 điện thoại nhãn hiệu Pro màu đen số IMEI 1: 351949900862528, số IMEI 2 : 351949900862536, 01 điện thoại Nokia màu đen có số IMEI 1: 353163112497721, số IMEI 2: 353163113497720; 01 điện thoại Iphone XS MAX màu vàng có số IMEI 1: 357266096761198, số IMEI 2: 357266096764945; 01 xe moto nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu trắng xám, BKS : 15B3-116.23 số máy : JF46E0020755, số RLHJF4603DY020719.

2.4. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 03 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (hiện Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an T đang quản lý).

Tình trạng, đặc điểm các vật chứng thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14 tháng 02 năm 2025 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an T cho Cục thi hành án dân sự TP Hải Phòng.

3. Về án phí: Bị cáo Bùi Đức T và bị cáo Hoàng Văn H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

- TANDCC; VKSNDCC;

- Vụ 1 - TANDTC;

- VKSND TP Hải Phòng;

- PV06 Công an TP Hải Phòng;

- Cục THADS TP Hải Phòng;

- Sở Tư pháp TPHP;

- Bị cáo; Trại tạm giam;

- Người tham gia tố tụng;

- Phòng KTNV và THA;

- Lưu: HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hữu Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 46/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Đức T, Hoàng Văn H mua bán tpcmt
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger