|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2025/HS-ST Ngày: 24- 6- 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Xuân Trường;
Ông Trần Xuân Thu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hồng Chuyên- Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Trí- Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2025/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Thế G, sinh ngày 13- 5- 1984 tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố T, thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định; chỗ ở trước khi bị bắt: Tổ dân phố C, thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị N1; vợ là Phạm Thị D và có 04 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 21- 8- 2012, bị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 27 tháng tù, cho hưởng án treo, theo Bản án số 73/2012/HSPT về tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc”; Ngày 11- 9- 2018, bị Công an huyện G xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 79/QĐXPVPHC về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12- 9- 2024 đến nay; “có mặt”.
Vũ Viết T, sinh ngày 18- 6- 1996 tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm A, xã G huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Bá X và bà Đinh Thị L; chưa có vợ, con; Tiền án: Ngày 27- 12- 2017, bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt 36 tháng tù theo Bản án số 99/2017/HSST về tội “Cố ý gây thương tích”; Ngày 24- 6- 2022, bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu xử phạt 16 tháng tù, theo Bản án số 37/2022/HSST về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; Tiền sự: Ngày 10-11- 2023, bị Công an huyện G xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 65/QĐ-CAH đối với hành vi “Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu TNHS” và “Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc công cụ, đồ vật, phương tiên khác có khả năng sát thương”; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20- 9- 2024 đến nay; “có mặt”.
Trần Văn V, sinh ngày 29- 9- 1995 tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm C, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; không xác định được bố và con bà Trần Thị L1; chưa có vợ, con; Tiền án: Ngày 18- 11- 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt 08 năm tù theo Bản án số 99/2014/HSST về tội “Cướp tài sản”. Ngày 24- 6- 2022, bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu xử phạt 14 tháng tù theo Bản án số 37/2022/HSST về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; Tiền sự: Ngày 10-11- 2023, bị Công an huyện G xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 66/QĐ-CAH đối với hành vi “Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” và “Sử dụng rượu, bia, các chất kích thích gây mất trật tự công cộng”; Hiện đang chấp hành hình phạt 07 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2025/HSST ngày 24- 4- 2025 của Toà án nhân dân huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định; thời hạn tù tính từ ngày 14-01-2025; "có mặt"
* Bị hại: Anh Cao Quang T1, sinh năm 1989, trú tại: xóm H, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.
* Người làm chứng: Chị Phùng Thị Như H, ông Phạm Văn B, anh Phạm Văn L2 và ông Nguyễn Văn V1; "vắng mặt".
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 5/2024, Nguyễn Thế G cho anh Cao Quang T1 vay 140.000.000đ. Đến tháng 8/2024, anh T1 đã trả cho G 105.000.000đ, còn nợ lại 35.000.000đ.
Sáng ngày 18/8/2024, Nguyễn Thế G rủ Vũ Viết T, Đỗ Văn N2 (sinh năm: 1995, trú tại: xóm T, xã G) và Trần Văn V đi thị trấn G bằng xe ô tô taxi do Phạm Văn L2 điều khiển. Khi di chuyển đến khu vực cầu X, thị trấn G, G nói cho T, V, N2 biết về việc anh T1 đang nợ tiền của G chưa trả nhưng G không biết nơi ở của T1 mà chỉ biết thông tin T1 đang ở cùng bạn gái là chị Võ Thị D1 đang thuê nhà trọ ở xã B, huyện G, tỉnh Nam Định. Mục đích của G là rủ T, V, N2 đi đòi nợ cùng G. Sau khi hỏi thăm, anh L2 chở G, T, V và N2 đến Xóm A, xã B, huyện G, tỉnh Nam Định để tìm gặp T1. Khi đến khu dãy phòng trọ, do không gặp được T1 nên G, T, V và N2 đứng ở khu vực cổng dãy trọ chờ anh T1. Khoảng 15 phút sau, anh T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 18B2 - 211.49, chở chị D1 cùng con nhỏ đi về. Anh T1 để xe mô tô bên ngoài cổng rồi đi vào trong phòng trọ, thấy thế G đi vào gặp anh T1 và nói: “Mày giờ trả tiền cho tao”, anh T1 xin khất nợ thêm một đến hai hôm sẽ trả nhưng G không đồng ý và dùng tay phải tát 02 cái vào má bên trái của T1 rồi đe dọa: “Nếu như hôm nay không có tiền trả tao thì tao đánh đến khi nào mày có tiền trả thì thôi”. Sau đó, G yêu cầu anh T1 đi ra ngoài khu vực trọ để nói chuyện. Khi anh T1 đi ra đến cổng dãy phòng trọ thì tiếp tục bị T, N2 lao vào dùng tay tát, đấm vào mặt và gáy anh T1. Sau đó các đối tượng yêu cầu anh T1 đi ra khu vực gốc cây ổi gần xe ô tô taxi để nói chuyện, G tiếp tục yêu cầu anh T1 phải trả tiền cho mình nhưng anh T1 chưa có tiền nên xin khất nợ. G yêu cầu anh T1 mở tài khoản trên máy điện thoại để kiểm tra xem có tiền không thì thấy tài khoản còn 373.000 đồng. Giáp tiếp tục yêu cầu nhưng anh T1 vẫn xin khất, thấy vậy T, V và N2 tiếp tục dùng tay tát vào mặt anh T1 01-02 cái. Sau đó, G nói: “Bây giờ mày đi cắm điện thoại, xe mô tô trả tiền tao”, T nói thêm vào: “Đây tôi đang làm cầm đồ đây” (ý muốn nói nếu cần tiền trả nợ thì cắm xe mô tô cho T). Tuy nhiên anh T1 không đồng ý và trả lời: “Chiếc điện thoại em đang mua trả góp và xe mô tô của em em, bao giờ em có em trả”. G yêu cầu anh T1 phải trả nợ ngay trong ngày hôm nay, sau đó yêu cầu anh T1 đi lên xe ô tô taxi của anh L2 và bảo V điều khiển xe mô tô của anh T1 đi theo phía sau. Anh T1 lên xe ô tô taxi của anh L2, ngồi giữa T và N2 ở hàng ghế sau, còn G ngồi ghế trước bên phụ, sau đó cả nhóm đi về cửa hàng cầm đồ “Phương Thiên” của T tại: Xóm C, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Trên đường đi, G hỏi T về việc cầm cố chiếc xe mô tô Yamaha của anh T1 được bao nhiêu tiền. T trả lời nếu xe mô tô không có giấy tờ cầm cố được 7.000.000đ đến 10.000.000đ. Anh T1 không đồng ý cầm cố thì G nói: “Giờ tao không cần biết, mày phải cắm xe trả tiền tao”. Khi đến cửa hàng cầm đồ “Phương Thiên”, G vẫn ngồi trên xe ô tô taxi còn T, N2 và anh T1 đi vào trong cửa hàng cầm đồ, sau đó V điều khiển xe mô tô Yamaha của anh T1 đi đến dựng trước cửa quán. Tại đây, T viết một “bản hợp đồng cầm cố tài sản” đối với chiếc xe mô tô Yamaha, với số tiền 7.000.000 đồng trong thời gian 01 tháng rồi đưa cho anh T1 ký, sau đó T giữ lại bản hợp đồng này. Thực tế T không đưa số tiền 7.000.000 đồng cho anh T1 và không thống nhất tiền lãi trong hợp đồng. Lúc này, G xuống xe taxi đi vào yêu cầu anh T1: “Cái điện thoại đấy xem cắm nốt đi rồi trả tiền tao”, anh T1 không đồng ý và lấy lý do: “Điện thoại em mua trả góp, lại không nhớ mật khẩu icloud nên không cầm được”. N2 liền cầm điện thoại của anh T1 để kiểm tra, yêu cầu anh T1 đọc mật khẩu điện thoại rồi kiểm tra máy và nói: “Con này là Iphone 15 Promax, mới mua được tháng, con này có giá đấy”. Sau đó N2 đưa điện thoại cho T, T yêu cầu anh T1 cung cấp mật khẩu Icloud rồi Thiên thoát Icloud ra khỏi máy điện thoại. Lúc này G nhờ T cầm cố chiếc điện thoại này của anh T1 để lấy tiền nhưng do T hết tiền nên T gọi điện hỏi Phạm Văn V2 chủ cửa hàng điện thoại di động “Tuấn Vinh” tại Xóm D, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định thì anh V2 yêu cầu mang máy xuống xem trực tiếp. Sau đó T, N2, G và anh T1 đi lên xe taxi do anh L2 điều khiển còn V điều khiển xe mô tô Y đi đến cửa hàng. Khi đến nơi T, N2 và anh T1 đi vào trong cửa hàng còn G vẫn ngồi trong xe ô tô taxi, V dựng xe đứng bên ngoài. T gặp và đặt vấn đề cầm cố điện thoại với chủ quán là anh Nguyễn Văn V1 (sinh năm: 1992, trú tại xóm D, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định). Anh V1 kiểm tra và đồng ý cầm cố với giá là 23.000.000 đồng rồi đưa 23.000.000 đồng cho T. T cầm tiền đi ra xe taxi đưa cho G, G đưa lại 500.000 đồng cho anh T1 để đi taxi về nhà. Sau đó, T chuyển khoản cho G số tiền 7.000.000 đồng cầm cố xe anh T1.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã: Thu giữ 02 đoạn video lưu giữ vào 01 USB (Kèm theo hồ sơ vụ án) ghi lại hình ảnh các đối tượng ở quán điện thoại Tuấn V3. 02 đoạn video lưu giữ vào 01 USB (Kèm theo hồ sơ vụ án) ghi lại hình ảnh hành vi của các đối tượng trong khu dãy trọ nhà ông B. Thu giữ 01 điện thoại di động Iphone 15 Promax của Nguyễn Văn V1 giao nộp. Thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát 18B2 - 211.49 và 01 chìa khóa xe mô tô trên thân chìa khóa có khắc số A3964437 của Vũ Viết T giao nộp. Thu giữ 01 đơn đề nghị ghi ngày 18- 8- 2024, 01 bản phô tô đăng ký xe mô tô và 01 bản phô tô giấy vay tiền của anh Cao Quang T1 giao nộp. Thu giữ 02 bản phô tô giấy vay tiền thu giữ khi tiến hành khám xét quán Karaoke “Roma” của Nguyễn Thế G. Thu giữ 01 bản gốc giấy hợp đồng cầm cố tài sản tại của hàng cầm đồ Phương T2 với tài sản là chiếc xe mô tô giá 7.000.000 đồng thu giữ khi tiến hành khám xét cửa hàng cầm đồ “Phương Thiên”.
Kết luận định giá tài sản số 24/KL ngày 30- 9- 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện G, tỉnh Nam Định kết luận về giá trị tài sản trong vụ án: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax giá trị 24.650.000 đồng; Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha trị giá 14.880.000 đồng.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thế G đã nhờ vợ là chị Phạm Thị D bồi thường khắc phục số tiền 29.500.000.000 đồng cho anh Cao Quang T1. Anh T1 đã trả lại cho anh Nguyễn Văn V1 số tiền 23.000.000 đồng và giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 7.000.000 đồng (tiền cầm cố xe mô tô). Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T1: 01 điện thoại di động Iphone 15 Promax, 01 xe mô tô và 01 chìa khóa xe. Anh Cao Quang T1, anh Nguyễn Thế V4 không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.
Cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 13- 5- 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Nguyễn Thế G về tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự, Vũ Viết T và Trần Văn V về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm h khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thế G, Vũ Viết T và Trần Văn V về tội “Cướp tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thế G từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung. Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Vũ Viết T, Trần Văn V mỗi bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Căn cứ Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc Trần Văn V phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án. Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 7.000.000 đồng.
- Các bị cáo Nguyễn Thế G, Vũ Viết T và Trần Văn V đều thừa nhận hành vi đã nêu, không tự bào chữa, tranh luận gì, tỏ rõ sự ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình tố tụng, các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Có đủ cơ sở xác định: Sáng ngày 18- 8- 2024, Nguyễn Thế G đã rủ Vũ Viết T, Trần Văn V và Đỗ Văn N2 đi tìm gặp anh Cao Quang T1 để đòi nợ. Khoảng 10 giờ cùng ngày, tại khu nhà trọ của anh Cao Quang T1 ở xóm A, xã B, huyện G, Nguyễn Thế G, Vũ Viết T, Trần Văn V và Đỗ Văn N2 đã có hành vi dùng tay tát, đánh anh T1 để buộc anh T1 phải đi cầm cố tài sản của anh Cao Quang T1; cụ thể: đã cầm cố cho chính Vũ Viết T 01 xe mô tô trị giá 14.880.000 đồng lấy số tiền 7.000.000đ; cầm cố cho anh Nguyễn Văn V1 01 điện thoại di động Iphone 15 Promax trị giá 24.650.000 đồng lấy số tiền 23.000.000đ. Số tiền cầm cố tài sản tổng cộng 30.000.000 đồng, Nguyễn Thế G đã chiếm đoạt mục đích trừ vào số nợ của anh Cao Quang T1.
[3] Các bị cáo Nguyễn Thế G, Vũ Viết T và Trần Văn V là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã công khai, trắng trợn chiếm đoạt tài sản của người khác, đây là hành vi rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Thế G, Vũ Viết T và Trần Văn V phạm tội "Cướp tài sản" theo quy định tại Điều 168 của Bộ luật Hình sự.
[4] Đối với Vũ Viết T: Ngày 27- 12- 2017, bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt 36 tháng tù theo Bản án số 99/2017/HSST về tội “Cố ý gây thương tích”. Khi chưa được xoá án tích của Bản án này thì Vũ Viết T phạm tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản", bị Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xử phạt 16 tháng tù với tình tiết tăng nặng "Tái phạm" theo Bản án số 37/2022/HSST. Tính đến thời điểm 18-8-2024, khi thực hiện hành vi phạm tội này thì Vũ Viết T chưa được xoá án tích của Bản án số 37/2022/HSS. Vì vậy, lần phạm tội này của Vũ Viết T thuộc trường hợp "Tái phạm nguy hiểm" theo điểm b khoản 2 Điều 53 của Bộ luật Hình sự.
[5] Đối với Trần Văn V: Ngày 18- 11- 2014, Trần Văn V bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt 8 năm tù theo Bản án số 99/2014/HSST về tội “Cướp tài sản”. Khi chưa được xoá án tích của Bản án này thì Trần Văn V phạm tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản", bị Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xử phạt 14 tháng tù với tình tiết tăng nặng "Tái phạm" theo Bản án số 37/2022/HSST. Tính đến thời điểm 18-8-2024, Trần Văn V chưa được xoá án tích của Bản án số 37/2022/HSST. Vì vậy, lần phạm tội này của Trần Văn V thuộc trường hợp "Tái phạm nguy hiểm" theo điểm b khoản 2 Điều 53 của Bộ luật Hình sự.
[6] Do đó, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Thế G phạm tội "Cướp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Vũ Viết T và Trần Văn V về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm h khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều đã bị xử phạt hành chính chưa được xoá vi phạm. Bị cáo Nguyễn Thế G đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích nên không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Bị cáo Vũ Viết T và Trần Văn V đều có 02 tiền án nhưng đã bị áp dụng tình tiết "tái phạm nguy hiểm" để định khung hình phạt theo điểm h khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự nên không phải chịu tình tiết tăng nặng theo khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thế G đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả cho bị hại, G có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình được chính quyền địa phương xác nhận nên G được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Thế G, Vũ Viết T và Trần Văn V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[9] Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ: Bị cáo Nguyễn Thế G có vị trí cao hơn các bị cáo khác trong vụ án; tiếp đến là bị cáo Vũ Viết T, bị cáo Trần Văn V có vai trò sau cùng trong vụ án.
[10] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, vai trò của các bị cáo trong vụ án, hình phạt quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn ở mức trong khung hình phạt tương xứng đối với mỗi bị cáo, đủ tác dụng cải tạo các bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[11] Trần Văn V đang chấp hành hình phạt 07 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2025/HSST ngày 24- 4- 2025 của Toà án nhân dân huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định; vì vậy cần áp dụng Điều 56 tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.
[12] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có tài sản giá trị, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo, như quy định tại khoản 6 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.
[13] Số tiền 7.000.000 đồng do gia đình Nguyễn Thế G giao nộp là tiền do Vũ Viết T chuyển cho G được coi là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp.
[14] Anh Nguyễn Văn V1 có hành vi nhận cầm cố tài sản là chiếc điện thoại đi dộng Iphone 15 Promax của anh T1, tuy nhiên anh V1 không biết là tài sản do phạm tội mà có nên hành vi của Nguyễn Văn V1 không cấu thành tội phạm.
[15] Bị cáo Vũ Viết T nhận cầm cố tài sản là chiếc xe mô tô của anh T1; chiếc xe mô tô trên mang tên chủ xe: Cao Ngọc T3 (sinh năm: 1993, địa chỉ: G, G, Nam Định – là em trai anh T1) có dấu hiệu vi phạm các quy định về quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh tách phần tài liệu trên để xử lý sau là phù hợp.
[16] Đỗ Văn N2 bỏ trốn đến nay vẫn chưa bắt được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N tách hành vi cướp tài sản của Đỗ Văn N2 để tiếp tục xác minh, truy bắt, điều tra xử lý sau là phù hợp.
[17] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Cao Văn T4 đã nhận lại chiếc xe và chiếc điện thoại bị chiếm đoạt; anh V1 đã nhận lại số tiền bỏ ra để nhận cầm cố chiếc điện thoại. Nay không ai có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không xem xét, điều chỉnh.
[18] Về án phí, quyền kháng cáo: Các bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 168, các điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế G phạm tội “Cướp tài sản”; xử phạt bị cáo Nguyễn Thế G 3 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12- 9- 2024.
Căn cứ vào điểm h khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Vũ Viết T phạm tội “Cướp tài sản”; xử phạt bị cáo Vũ Viết T 7 (bảy) năm 3 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20- 9- 2024.
Căn cứ vào điểm h khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội “Cướp tài sản”; xử phạt bị cáo Trần Văn V 7 (bảy) năm tù; tổng hợp với hình phạt 7 (bảy) năm tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2025/HSST ngày 24- 4- 2025 của Toà án nhân dân huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định; buộc bị cáo Trần Văn V phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 14 (mười bốn) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 14- 01- 2025.
Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng). (Được thu giữ theo Biên lai thu tiền số 0003454 ngày 28-5-2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định)
Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc Nguyễn Thế G, Vũ Viết T và Trần Văn V mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thế G, Vũ Viết T và Trần Văn V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại là anh Cao Quang T1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Duyên |
Bản án số 46/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định về cướp tài sản
- Số bản án: 46/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo phạm tội
