Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 – NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HS-ST

 

Ngày: 23-10-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Quang Bảo.
  2. Ông Ngô Kim Thành.

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thanh Hương - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đoàn Đức A, sinh ngày 20-10-1998 tại tỉnh Ninh Bình; số CCCD: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Tuấn A1 và bà: Vũ Thị Thanh T; vợ con: Không; tiền án: Ngày 25-7-2023, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06-02-2025; tiền sự: Ngày 20-5-2025, Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; nhân thân: Ngày 30-5-2017, Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xử phạt 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 07-9-2022 Công an huyện N, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27-7-2025, chuyển tạm giam ngày 05-8-2025.

Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3, Công an tỉnh N. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1970; nơi cư trú: Xóm P, phường T, tỉnh Ninh Bình. Bà Nguyễn Thị L vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 23-7-2025, Đoàn Đức A mượn xe đạp của ông nội là Đoàn Văn B, sinh năm 1948 đi từ nhà đến khu vực phường T, tỉnh Ninh Bình tìm tài sản sở hở để trộm cắp. Khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày, Đoàn Đức A phát hiện nhà bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1970 ở xóm P, phường T, tỉnh Ninh Bình không có người trông coi, ĐoànĐức Anh trèo tường vào vườn trộm cắp 05 con gà, bỏ vào bao xác rắn đặt lên rọ xe đạp mang đi tiêu thụ. Khi đến khu vực chợ N, phường N, tỉnh Ninh Bình, Đoàn Đức A bán số gà trên cho bà Trần Thị Kim L1, sinh năm 1965 với giá 70.000 đồng/1 kg, tổng trọng lượng 10 kg, tổng số tiền 700.000 đồng. Do có 01 con gà chết nên bà L1 trừ 100.000 đồng, trả cho Đoàn Đức A 600.000 đồng. Số tiền này Đoàn Đức A tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi bị triệu tập, Đoàn Đức A đã đầu thú tại cơ quan điều tra đồng thời giao nộp: 01 áo phông đen cộc tay không cổ, trên áo có in dòng chữ NTREP, 01 quần short vải màu đen, trên quần có in chữ NTR, 01 đôi dép lê màu đen là các trang phục Đức A đã mặc khi trộm cắp gà của nhà bà L1 ngày 23-7-2025, 01 xe đạp mini tối màu.

Kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 04-8-2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Ninh Bình kết luận: 05 con gà thịt, giống lông phượng (chưa thu hồi được tang vật) tổng trọng lượng 10 kg có giá 1.100.000 đồng.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ 02 đoạn video được trích xuất từ camera khu vực xung quanh hiện trường ghi nhận hình ảnh vào thời điểm 10 giờ 46 phút ngày 23-7-2025, Đoàn Đức A điều khiển xe đạp chở 01 bao xác rắn màu trắng đi từ khu vực hiện trường về phía phường N, tỉnh Ninh Bình. Kết luận giám định số 634/KL-KTHS ngày 02-9-2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Không phát hiện dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ mẫu cần giám định.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã trả lại 01 chiếc xe đạp cho ông Đoàn Văn B. Đoàn Đức A đã tác động gia đình bồi thường cho bà Nguyễn Thị L số tiền 1.500.000 đồng, bà L nhận tiền và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Đức A.

Tại Cơ quan điều tra Đoàn Đức A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bản Cáo trạng số 38/CT-VKS-KV7 ngày 29-9-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình truy tố bị cáo Đoàn Đức A về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Đức A đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như bản Cáo trạng đã nêu và không khai báo thêm tình tiết gì mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Đoàn Đức A tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố khu vực 7 – Ninh Bình giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Đoàn Đức A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  • - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đoàn Đức A từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.

  • - Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  • - Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 áo phông không cổ màu đen, cộc tay, mặt trước áo in dòng chữ NTREP (đã qua sử dụng); 01 quần đùi bằng vải màu đen, mặt trước quần có in chữ NTR (đã qua sử dụng), 01 đôi dép lê màu đen (đã qua sử dụng).

  • - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

  • - Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự bị cáo và đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Đoàn Đức A nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Đức A, bị hại là bà Nguyễn Thị L không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp

[2] Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Đoàn Đức A trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Đơn trình báo; biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú; biên bản thu giữ vật chứng; kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 04-8-2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Ninh Bình; lời khai của bị hại cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 23-7-2025, tại nhà bà Nguyễn Thị L ở xóm P, phường T, tỉnh Ninh Bình, Đoàn Đức A đã có hành vi trộm cắp 05 con gà thịt, tổng trọng lượng 10 kg, trị giá 1.100.000 đồng của bà Nguyễn Thị L. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Đoàn Đức A đang có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy, bị cáo Đoàn Đức A đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự.

3.1. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo Đoàn Đức A đã ra đầu thú, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo Đoàn Đức A đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, đã tác động đến gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

3.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đoàn Đức A có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” chưa được xoá án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo Đoàn Đức A là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đối với đối với an ninh trật tự địa phương. Bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng nhiều lần bị xét xử nhưng vẫn không chịu tu dưỡng, rèn luyện để trở thành công dân tốt nay lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo Đoàn Đức A không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 áo phông không cổ màu đen, cộc tay, mặt trước áo in dòng chữ NTREP (đã qua sử dụng); 01 quần đùi bằng vải màu đen, mặt trước quần có in chữ NTR (đã qua sử dụng), 01 đôi dép lê màu đen (đã qua sử dụng) là trang phục bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, xét không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe đạp là tài sản của ông Đoàn Văn B (ông nội bị cáo), ông B không biết bị cáo mượn xe để đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông Đoàn Văn B là đúng quy định pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đoàn Đức A đã tác động gia đình bồi thường cho bà Nguyễn Thị L số tiền 1.500.000 đồng, bà L đã nhận tiền, không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy, vấn đề dân sự trong vụ án đã được giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đoàn Đức A bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Đức A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  • - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Đoàn Đức A 01 (một) năm tù.

Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 27-7-2025.

2. Xử lý vật chứng:

  • Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.

  • Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 áo phông không cổ màu đen, cộc tay, mặt trước áo in dòng chữ NTREP, đã qua sử dụng; 01 quần đùi bằng vải màu đen, mặt trước quần có in chữ NTR, đã qua sử dụng; 01 đôi dép lê màu đen, đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09-10-2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh Ninh Bình).

3. Án phí:

  • - Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  • - Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Đoàn Đức A phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo Đoàn Đức A có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là bà Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Đoàn Đức A có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;

  • - VKSND khu vực 7 - Ninh Bình (02 bản);

  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Ninh Bình;

  • - Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình;

  • - Bị cáo;

  • - Bị hại;

  • - Lưu hồ sơ vụ án;

  • - Lưu VP.

 

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Mạnh Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HS-ST ngày 23/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 46/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger