TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2025/HS-ST Ngày: 13-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU – TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Viết Dược.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Anh;
2. Bà Trần Thị Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mến - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HS, ngày 24 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Tấn X, sinh ngày 13/4/1992 tại tỉnh Đồng Nai. Nơi thường trú: Ấp T, xã Đ,huyện T, tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 6/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Huyền D, sinh năm 1972. Bị cáo chưa có vợ con.
-Tiền án:
Ngày 22/6/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 88/2010/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/01/2011.
Ngày 30/5/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xử phạt 24 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (Bản án 77/2011/HS-ST ngày 30/5/2011), chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/02/2013.
Ngày 30/9/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung là 07 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2013 (Bản án 187/2013/HS-ST ngày 30/9/2013).
Ngày 27/01/2021, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2020 (Bản án 28/2021/HS-ST ngày 27/01/2021).
- Tiền sự: Không.
- Bị bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 12/11/2024, chuyển tạm giam ngày 21/11/2024 theo Lệnh số 445/LTG ngày 20/11/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V. Hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực V-Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Có mặt.
2. Họ và tên: Nguyễn Trọng Đ, sinh ngày 03/01/1993, tại tỉnh Nghệ An. Nơi thường trú: xóm G, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Nơi ở hiện tại: tổ B, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 9/12. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Trọng H, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1967. Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1995 và có 01 con sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 12/11/2024, chuyển tạm giam ngày 21/11/2024 theo Lệnh số 446/LTG ngày 20/11/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V. Hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực V-Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Có mặt.
Bị hại: Ông Phạm Văn B, sinh năm 1948. Địa chỉ: B, tổ B, ấp V, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1998. Địa chỉ: Tổ F, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 11/11/2024, Nguyễn Tấn X điều khiển xe mô tô biển số 71K2-5262 chở Nguyễn Trọng Đ lưu thông trên đường ĐT 768 đến địa phận ấp V, xã T, huyện V thì X và Đ phát hiện có 01 mô tô Wave biển số 60B9-832.13 trong sân nhà của ông Phạm Văn B, sinh năm 1948, địa chỉ ấp V, xã T, cổng không khóa, không có người trông coi. Đ và X nảy sinh ý định lấy trộm xe, Đ đứng ngoài đường cảnh giới, X đột nhập vào nhà dắt xe mô tô biển số 60B9-832.13 ra khỏi cổng thì bị ông B phát hiện truy hô, đuổi theo. Đ điều khiển xe mô tô biển số 71K2-5262, Xinh nổ máy và điều khiển xe mô tô Wave biển số 60B9-832.13 chạy thoát. Sau đó Nguyễn Tấn X gặp L (không rõ họ, địa chỉ) nhờ tìm nơi tiêu thụ xe trộn cắp. L đồng ý rồi cùng X mang xe trộm cắp được, sử dụng Chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60B9-832.13, bản phô tô Căn cước công dân đều mang tên Phạm Văn B (để sẵn trong cốp xe) đến cầm cố cho anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1998 là chủ tiệm C tại địa chỉ khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Anh H1 không biết tài sản do phạm tội mà có, nên đồng ý cầm cố xe 60B9-832.13 với giá 11.000.000 đồng và đã chuyển khoản số tiền này vào tài khoản của Nguyễn Tấn X, X chia cho Đ 3.000.000 đồng.
Ngày 11/11/2024, ông Phạm Văn B trình báo sự việc trên đến Công an xã T, Công an xã T thu thập tài liệu và chuyển giao hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 12/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã bắt giữ khẩn cấp đối với Nguyễn Tấn X, Nguyễn Trọng Đ.
-Tang vật, tài sản tạm giữ gồm:
- + 01 xe mô tô Wave biển số 60B9-832.13; 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60B9-832.13; 01 bản phô tô Căn cước công dân tên Phạm Văn B, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã giao trả cho anh B.
- + Thu giữ của Nguyễn Tấn X số tiền 5.200.000 đồng; 01 xe mô tô biển số 71K2-5262 (số máy CT100E1864219; số khung VHMPCG00328005465); 02 nón bảo hiểm, 01 áo sơ mi, 02 áo khoác và 01 quần kaki; 01 điện thoại di động Vivo.
- + Thu giữ của Nguyễn Trọng Đ số tiền 3.000.000 đồng.
- Kết luận định giá tài sản số 43/KL-ĐGTS, ngày 15/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận xe mô tô Wave biển số 60B9-832.13 trị giá 15.000.000 đồng.
- Kết quả xác minh xác định xe mô tô biển số 71K2-5262 (số máy CT1001 CT100E1864219 số khung VHMPCG00328005465) do ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1965, thường trú tại ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Bến Tre đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã uỷ thác điều tra cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Bến Tre làm rõ nguồn gốc xe. Tuy nhiên đến nay chưa có kết quả, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiếp tục làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật.
- Trách nhiệm dân sự:
Anh Phạm Văn B đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Anh Nguyễn Văn H1 yêu cầu các bị cáo trả số tiền 11.000.000 đồng đã cầm xe.
- Cáo trạng số 40/CT-VKSVC, ngày 19 tháng 02 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu truy tố Nguyễn Tấn X về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Trọng Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, nêu tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn X, Nguyễn Trọng Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản".
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử, phạt bị cáo Nguyễn Tấn X từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù;
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Đ từ 10 đến 12 tháng tù;
Buộc Nguyễn Tấn X, Nguyễn Trọng Đ hoàn trả số tiền có được từ việc bán xe là 11.000.000 đồng (trong đó Đ 3.000.000 đồng, Xinh 8.000.000 đồng) cho anh Nguyễn Văn H1;
Trả 02 nón bảo hiểm, 01 áo sơ mi, 02 áo khoác, 01 quần kaki, 01 điện thoại di động Vivo cho Nguyễn Tấn X;
Tiếp tục tạm giữ 3.000.000 đồng tạm giữ của Nguyễn Trọng Đ; 5.200.000 đồng tạm giữ của Nguyễn Tấn X để bảo đảm thi hành án.
Về án phí buộc các bị cáo phải chịu.
Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Trong lời nói sau cùng các bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về hành vi thực hiện tội phạm của các bị cáo:
Xét thấy, lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Vào ngày 11/11/2024, tại ấp V, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Tấn X và Nguyễn Trọng Đ lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, đã lén lút chiếm đoạt xe mô tô Wave biển số 60B9- 832.13 trị giá 15.00.000 đồng của ông Phạm Văn B.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản được thu hồi giao trả bị hại quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện để bị cáo cải tạo trở thành công dân sống có ích cho xã hội.
[4] Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo, quyết định hình phạt và biện pháp ngăn chặn:
Nguyễn Tấn X, Nguyễn Trọng Đ thực hiện hành vi phạm tội vai trò thực hành ngang nhau.
Bị cáo Nguyễn Tấn X đã bị đưa ra xét xử nhiều lần về hành vi trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân, mà tiếp tục phạm tội, thể hiện việc coi thường pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo lần này phạm vào tình tiết tăng nặng định khung là tái phạm nguy hiểm, quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của từng bị cáo; căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo, cần thiết phải cách ly các bị cáo với xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm cho việc thi hành án.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Anh Phạm Văn B đã nhận lại tài sản trộm cắp, không yêu cầu các bị cáo bồi thường, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Buộc các bị can Nguyễn Tấn X, Nguyễn Trọng Đ hoàn trả số tiền có được từ việc bán xe là 11.000.000 đồng (trong đó Đ 3.000.000 đồng, Xinh 8.000.000 đồng) cho anh Nguyễn Văn H1.
[6] Về xử lý vật chứng trong vụ án:
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã giao trả cho anh Phạm Văn B 01 xe mô tô Wave biển số 60B9-832.13; 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60B9-832.13; 01 bản phô tô Căn cước công dân tên Phạm Văn B là phù hợp quy định pháp luật.
Giao trả 02 nón bảo hiểm, 01 áo sơ mi, 02 áo khoác, 01 quần kaki, 01 điện thoại di động Vivo cho Nguyễn Tấn X do không liên quan đến việc phạm tội.
Tiếp tục tạm giữ 3.000.000 đồng tạm giữ của Nguyễn Trọng Đ, 5.200.000 đồng tạm giữ của Nguyễn Tấn X để bảo đảm thi hành án.
[7] Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án:
Kết quả xác minh xác định xe mô tô biển số 71K2-5262 (số máy CT1001 CT100E1864219 số khung VHMPCG00328005465) do ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1965, thường trú tại ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Bến Tre đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã uỷ thác điều tra cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Bến Tre làm rõ nguồn gốc xe. Tuy nhiên đến nay chưa có kết quả, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiếp tục làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật.
[8] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc các bị cáo phải nộp.
[9] Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn X, Nguyễn Trọng Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản".
2. Hình phạt và biện pháp ngăn chặn:
2.1. Hình phạt:
- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn X 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/11/2024.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Đ 01 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/11/2024.
2.2. Biện pháp ngăn chặn:
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tiếp tục tạm giam các bị cáo Nguyễn Tấn X, Nguyễn Trọng Đ theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử, để bảo đảm thi hành án, thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Tấn X hoàn trả số tiền 8.000.000 đồng cho anh Nguyễn Văn H1.
Buộc bị cáo Nguyễn Trọng Đ hoàn trả số tiền 3.000.000 đồng cho anh Nguyễn Văn H1.
Trả lại 02 nón bảo hiểm, 01 áo sơ mi, 02 áo khoác, 01 quần kaki, 01 điện thoại di động Vivo cho bị cáo Nguyễn Tấn X.
Tiếp tục tạm giữ 3.000.000 đồng tạm giữ của Nguyễn Trọng Đ; 5.200.000 đồng tạm giữ của Nguyễn Tấn X để bảo đảm thi hành án.
(Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản và Biên lai thu tiền số 0004342 cùng ngày 20/02/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Vĩnh Cửu).
4. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc các bị cáo Nguyễn Tấn X, Nguyễn Trọng Đ mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trịnh Viết Dược |
Bản án số 46/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai về hình sự sơ thẩm (tội trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 46/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án xét xử
