|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2025/HS-ST
Ngày 17/6/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Ánh Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Lâm
- Ông Tạ Đình Thành
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Thọ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST- HS ngày 23 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 06/2025/TB – TA ngày 06 tháng 06 năm 2025, đối với bị cáo:
- Điểu T; Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 01/01/1985; tại: Bình Phước Nơi ở hiện tại: thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: S'Tiêng; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Điểu T1, sinh năm 1965 (đã chết) và bà Thị P, sinh năm 1967; bị cáo có 04 chị em ruột; có vợ tên Thị L, sinh năm 1997 (không đăng ký kết hôn) và có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 09/01/2025, tạm giam từ ngày 17/01/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Điểu T; Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 03/5/2007; tại: Bình Phước N thường trú: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; Nơi ở hiện tại: thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; CCCD: [...], cấp ngày: 27/8/2022, nơi cấp: C06-BCA; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: S'Tiêng; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Điểu B, sinh năm 1986 và Thị D, sinh năm 1985; bị cáo có người em ruột, sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 09/01/2025, tạm giam từ ngày 17/01/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Điểu T, sinh ngày 03/5/2007: Ông Đặng Thái H – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Điểu H1, sinh năm: 1997
Nơi cư trú: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Võ Thanh H2, sinh năm 1990. Địa chỉ: Khu phố B, phường S, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt.
- Nguyễn Công D1, sinh năm 1993; Địa chỉ: Khu phố B, phường S, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 09/01/2025, Điểu T, sinh năm 1985 và Điểu T, sinh năm 2007, góp mỗi người 250.000 đồng để mua ma túy về sử dụng. Điểu T, sinh năm 1985 điều khiển xe môtô kiểu Dream (không biển kiểm soát) chở Điểu T, sinh năm 2007 từ thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước đến khu phố B, phường S, thị xã P, tỉnh Bình Phước, mua ma túy của 01 đối tượng nữ (không rõ nhân thân lai lịch) với số tiền 500.000 đồng. Người này đưa cho Điểu T, sinh năm 2007 01 gói nylon bên ngoài quấn băng keo đen, kích thước (2,5 x 3,5) cm bên trong chứa ma túy. Điểu T, sinh năm 2007 cất ma túy vừa mua vào túi quần bên phải rồi Điểu T, sinh năm 1985 chở Điểu T, sinh năm 2007 chạy về hướng đường Đ thì bị lực lượng công an thị xã P yêu cầu dừng xe để kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Điểu T, sinh năm 2007 và Điểu T, sinh năm 1985 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: Một gói nylon hàn kín kích thước khoảng (2,5x3,5) cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, bên ngoài được quấn băng keo màu đen. 01 xe môtô kiểu Dream (không biển kiểm soát), số khung: C0100MN0097565, số máy: C100MNE-0097565.
Tại Bản kết luận giám định số 72/KL - KTHS, ngày 15/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh B xác định: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) có trong 01 gói nylon hàn kín được niêm phong định gửi là ma túy, có khối lượng: 0,7469 gam (không phẩy bảy bốn sáu chín gam), loại Methaphetamine. Mẫu hoàn lại sau giám định được niêm phong có khối lượng là 0,6060 gam.
Ngày 17/01/2025, Điểu T, sinh năm 1985 và Điểu T, sinh năm 2007 bị khởi tố bị can để điều tra.
Bản Cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 16/4/2025 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước đã truy tố Điểu T, sinh năm 1985 và Điểu T, sinh năm 2007 về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Điểu T, sinh năm 1985 và Điểu T, sinh năm 2007 về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”; Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa xác định: bị cáo Điểu T, sinh năm 1985 rủ bị cáo Điểu T, sinh năm 2007 mua chung ma tuý về cùng sử dụng, nhưng bị cáo T sinh năm 1985 không biết bị cáo T sinh năm 2007 chưa đủ 18 tuổi nên không áp dụng tình tiết tăng nặng Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội theo qui định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; các bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo là người dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế, bị cáo T sinh năm 1985 không biết chữ, có 04 người con; bị cáo T sinh năm 2007 thời điểm phạm tội chưa đủ 18 tuổi. Nên đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Điểu T sinh năm 1985 từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, 91; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Điểu T sinh năm 2007 từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (S) tháng tù.
Về vật chứng của vụ án:
- Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy 0,6060 gam ma túy còn lại sau giám định được Phòng K Công an tỉnh B niêm phong.
- 01 xe môtô kiểu Dream (không biển kiểm soát), đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo qui định.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Điểu H1 trình bày: Ông và Điểu T, sinh năm 1985 là anh em cột chèo. Ngày 09/01/2025, T hỏi mượn xe Dream của ông để đi công chuyện. Xe này là do ông mua lại để đi làm rẫy, tình trạng xe cũ, không có biển số, không có giấy đăng ký xe, ông mua lại bằng giấy tay. Ông không yêu cầu bị cáo phải bồi thường giá trị xe trên.
- Bị cáo Điểu T sinh năm 1985 tự bào chữa: Bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.
- Người bào chữa cho bị cáo Điểu T sinh năm 2007 trình bày lời bào chữa: Đồng ý với tội danh đã truy tố đối với bị cáo T cũng như áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị mức hình phạt. Đề nghị xem xét cho bị cáo Điểu T sinh năm 2007 mức hình phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù là phù hợp vừa mang tính khoan hồng, răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người chứng kiến; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định: vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 09/01/2025, Điểu T, sinh năm 1985 và Điểu T, sinh năm 2007 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, trọng lượng ma túy do các bị cáo tàng trữ là 0,7469 gam, loại Methamphetamine. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố để cấu thành “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát truy tố và luận tội các bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
- [3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ngoài ra còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội ở địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, mặc dù khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức được tác hại của chất ma túy, sẽ bị pháp luật xử lý nghiêm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện để thỏa mãn lối sống sa đọa, hủy hoại chính tương lai và sức khỏe của bản thân bị cáo. Do đó, việc áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra là cần thiết, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung.
- [4] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo T sinh năm 1985 khởi xướng cùng góp tiền mua chung ma tuý về sử dụng và điều khiển xe chở bị cáo T sinh năm 2007 đi mua ma tuý. Bị cáo T sinh năm 2007 góp tiền, cùng đi mua và cất giữ ma tuý. do đó vai trò bị cáo T sinh năm 1985 cao hơn và phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn so với bị cáo T sinh năm 2007. Tuy nhiên, tại thời điểm phạm tội, bị cáo T sinh năm 2007 chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng quy định tại các Điều 90, 91, 101 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo T.
- [5] Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như “Thành khẩn khai báo ăn năn hối cải”; các bị cáo là người dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế; nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- [6] Về hình phạt bổ sung: xét các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- [7] Đối với đối tượng bán ma tuý cho các bị cáo. Do không xác minh được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra Công an thị xã P không có căn cứ xử lý là đúng.
- [8] Về xử lý vật chứng:
01 (một) Phong bì ma túy sau giám định có trọng lượng 0,6060 gam được Phòng K Công an tỉnh B niêm phong, đây là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
01 xe môtô kiểu Dream (không biển kiểm soát), số khung: C0100MN0097565, số máy: C100MNE-009756. Ông H1 cũng không cung cấp được giấy tờ có liên quan chứng minh được nguồn gốc, xuất xứ hợp pháp của phương tiện. Kết quả tra cứu không có trong cơ sở dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Như vậy, có cơ sở xác định xe môtô kiểu D2 (không biển kiểm soát), số khung: C0100MN0097565, số máy: C100MNE-009756 có nguồn gốc không hợp pháp, không có giấy đăng ký xe do cơ quan có thẩm quyền cấp theo qui định của pháp luật nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[9] Quan điểm của Kiểm sát viên về việc không áp dụng tình tiết tăng nặng Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội theo qui định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Điểu T, sinh năm 1985 và về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với qui định pháp luật, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Điểu T, sinh ngày 01/01/1985 và Điểu T, sinh ngày 03/5/2007 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-
Về hình phạt:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Điểu T sinh ngày 01 tháng 01 năm 1985 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2025.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 58, 91, 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Điểu T, sinh ngày 03 tháng 5 năm 2007 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2025.
-
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ 0,6060 gam ma tuý loại Methamphetamine sau giám định đã niêm phong có chữ ký, họ tên các thành phần tham gia, dấu hình tròn màu đỏ của phòng K, công an tỉnh B.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô kiểu Dream không biển kiểm soát.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phước Long).
-
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 17/6/2025).
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trần Ánh Nguyệt |
Bản án số 46/2025/HS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 46/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Điểu T và đồng phạm
