Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẤP VÒ

TỈNH ĐỒNG THÁP


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 46/2025/HS-ST

Ngày: 17 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Phước.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Trung Tính.
  2. Bà Nguyễn Thị Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nhựt Hồ, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lý Băng Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án Huyện, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1994; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Ấp X, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N; con bà Huỳnh Thị D; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con út trong gia đình; tiền án; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 04/01/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/11/2018 và ngày 22/12/2023, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp phạt xong ngày 04/01/2024; tạm giữ: Ngày 20/3/2025, tạm giam: Ngày 23/3/2025, bị cáo đang bị tạm giam và có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Trần Văn M, sinh năm 1973. (Vắng mặt có đơn)

Địa chỉ: Số A, ấp N, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1993. (Có mặt)

Địa chỉ: Số A, ấp X, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre.

- Người làm chứng:

  1. Anh Trần Công L, sinh năm 1976. (Vắng mặt có đơn)
  2. Anh Huỳnh Văn T, sinh năm 1995. (Vắng mặt có đơn)
  3. Chị Võ Thị N1, sinh năm 1971. (Vắng mặt có đơn)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 20/3/2025, bị cáo Nguyễn Văn Đ điều khiển xe mô tô biển số 71C3-604.77 đi từ tỉnh An Giang qua tỉnh Đồng Tháp, khi đến khu vực ấp N, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, thì bị cáo Đ phát hiện nhà số 124A của bị hại Trần Văn M không khoá cửa rào nên mở cửa rào đi vào phía sau. Sau đó, bị cáo Đ lấy cây kéo và cây tua vít để sẵn trong cốp xe cạy cửa sau đột nhập vào nhà, rồi đi đến vị trí phòng ngủ thấy có tủ nhựa bên trong phòng, bị cáo Đ kéo hộc tủ ra thấy nhiều tờ tiền Việt Nam đồng có mệnh giá 200.000 đồng, bị cáo Đ lấy ra và đếm có 10 tờ tiền có mệnh giá 200.000 đồng nên cất vào túi quần đang mặc rồi đi ra ngoài. Lúc này, bị hại M và vợ là chị Võ Thị N1 về đến phát hiện bị cáo Đ từ trong nhà đi ra nên nghi vấn, truy hô và giữ bị cáo Đ lại, trình báo Công an xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Khi Công an xã V đến hiện trường bắt giữ bị cáo Đ và tạm giữ tang vật, tài sản gồm: Số tiền 2.000.000 đồng trên người của bị cáo Đ; 01 cây kéo, 01 cây tua vít, 01 xe mô tô biển số 71C3- 604.77 nhãn hiệu HONDA, số loại: Future FI, màu sơn: xanh - đen, số máy: JC90E0533041, số khung: RLHJC7651PY331687 đã qua sử dụng.

* Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại M số tiền bị trộm là 2.000.000 đồng, bị hại M không yêu cầu gì thêm.

Tại Bản Cáo trạng số 45/CT-VKSLV ngày 20 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát huyện L, đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ, về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Vị đại diện Viện kiểm sát huyện L thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, đã đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết tội đối với bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, căn cứ nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Về tội danh: Căn cứ Điều 173 của Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 09 (Chín) đến 12 (Mười hai) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tịch thu tiêu huỷ: 01 cây kéo, 01 cây tua vít.
  • Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô biến số 71C3-604.77 nhãn hiệu HONDA, số loại: Future FI, màu sơn: xanh - đen, số máy: JC90E0533041, số khung: RLHJC7651PY331687.
  • Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án làm căn cứ xét xử: 01 đĩa DVD ghi âm, ghi hình hỏi cung bị cáo.

- Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản Cáo trạng đã truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận: Vào khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 20/3/2025, bị cáo Đ quan sát nhà của bị hại Trần Văn M toạ lạc số 124A, ấp N, xã V, huyện L không khoá cửa rào nên bị cáo Đ mở cửa rào đi vào phía sau. Bị cáo Đ lấy cây kéo và cây tua vít đem theo cạy cửa sau đột nhập vào nhà, đi đến vị trí phòng ngủ thấy có tủ nhựa bên trong phòng, bị cáo Đ kéo hộc tủ ra thấy nhiều tờ tiền Việt Nam đồng có mệnh giá 200.000 đồng và đếm có 10 tờ tiền có mệnh giá 200.000 đồng nên cất vào túi quần đang mặc rồi đi ra ngoài. Lúc này, bị hại M và vợ là chị Võ Thị N1 về đến phát hiện bị cáo Đ từ trong nhà đi ra nên nghi vấn, truy hô và giữ bị cáo Đ lại, trình báo Công an xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Xét lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[3] Do đó, Viện kiểm sát huyện L truy tố bị cáo Đ, về tội “Trộm cắp tài sản” là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:”

[4] Xét, bị cáo Đ là người đã thành niên, bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng do muốn có tiền mà không phải bỏ công sức lao động vất vả, nên bị cáo đã lấy trộm tài sản của bị hại Mến nên phạm tội.

[5] Hành vi của bị cáo Đ thực hiện với lỗi cố ý, chẳng những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

[6] Do đó, việc đưa bị cáo Đ ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết, cần cách ly bị cáo một thời gian, để bị cáo có điều kiện học tập, cải tạo trở thành công dân tốt và sống có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời, góp phần phòng ngừa trong toàn xã hội.

[7] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tình tiết “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, bị cáo có bác ruột là ông Nguyễn Văn C là liệt sĩ được Thủ tướng Chính phủ tặng Tổ Quốc Ghi Công và gia đình đang thờ cúng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là phù hợp với điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu thể hiện vào ngày 04/01/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/11/2018 và ngày 22/12/2023, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt xong ngày 04/01/2024 nên cần xem xét khi lượng hình.

[8] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đ.

[9] Về xử lý vật chứng: Tại phiên tòa, bị cáo Đ cho rằng chiếc xe Future, biển kiểm soát 71C3-604.77 là xe của chị Nguyễn Thị Đ1 cho bị cáo mượn sử dụng. Còn chị Nguyễn Thị Đ1 cho rằng xe của chị Đ1 cho bị cáo mượn sử dụng và yêu cầu được nhận lại xe để tiếp tục sử dụng. Xét, theo biên bản ghi lời khai của bị cáo Đ ngày 15/4/2025 xác định: Xe Future, biển kiểm soát 71C3-604.77 của bị cáo mua mượn chị Đ1 đứng tên giùm, còn theo biên bản ghi lời khai của chị Đ1 ngày 21/3/2025 xác định: Xe Future, biển kiểm soát 71C3-604.77 chị Đ1 cho bị cáo sử dụng, cho luôn nhưng không làm thủ tục tặng cho. Nên Hội đồng xét xử, xác định Xe Future FI, biển kiểm soát 71C3-604.77, nhãn hiệu HONDA, số loại: Future, màu sơn: Xanh - đen, số máy: JC90E0533041, số khung: RLHJC7651PY331687 là của bị cáo Đ, do sử dụng xe để đi trộm nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 cây kéo, 01 cây tua vít là công cụ dùng vào việc phạm tội.

Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án làm căn cứ xét xử: 01 đĩa DVD ghi âm, ghi hình hỏi cung bị cáo.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại có đơn xin vắng mặt và không có yêu cầu bị cáo Đ bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[11] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Về tội danh và điều khoản của tội danh, về mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[12] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[13] Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

1.1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1.2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 20/3/2025.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước của bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 xe mô tô biển số 71C3- 604.77 nhãn hiệu HONDA, số loại: Future FI, màu sơn: xanh-đen, số máy: JC90E0533041, số khung: RLHJC7651PY331687 là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội.
  • Tịch thu tiêu huỷ: 01 cây kéo, 01 cây tua vít là công cụ dùng vào việc phạm tội.
  • Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án làm căn cứ xét xử: 01 đĩa DVD ghi âm, ghi hình hỏi cung bị cáo.

3. Về án phí hình sự: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Đ1 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại Trần Văn M vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - VKS Tỉnh, Huyện;
  • - Tòa án Tỉnh;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Nhà tạm giữ Công an Huyện;
  • - Chi cục THADS Huyện;
  • - Bị cáo, các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hữu Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 46/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 20/3/2025, bị cáo Nguyễn Văn Đô điều khiển xe mô tô biển số 71C3-604.77 đi từ tỉnh An Giang qua tỉnh Đồng Tháp, khi đến khu vực ấp Nhơn Quới, xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp, thì bị cáo Đô phát hiện nhà số 124A của bị hại Trần Văn Mến không khoá cửa rào nên mở cửa rào đi vào phía sau. Sau đó, bị cáo Đô lấy cây kéo và cây tua vít để sẵn trong cốp xe cạy cửa sau đột nhập vào nhà, rồi đi đến vị trí phòng ngủ thấy có tủ nhựa bên trong phòng, bị cáo Đô kéo hộc tủ ra thấy nhiều tờ tiền Việt Nam đồng có mệnh giá 200.000 đồng, bị cáo Đô lấy ra và đếm có 10 tờ tiền có mệnh giá 200.000 đồng nên cất vào túi quần đang mặc rồi đi ra ngoài. Lúc này, bị hại Mến và vợ là chị Võ Thị Nên về đến phát hiện bị cáo Đô từ trong nhà đi ra nên nghi vấn, truy hô và giữ bị cáo Đô lại, trình báo Công an xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Khi Công an xã Vĩnh Thạnh đến hiện trường bắt giữ bị cáo Đô và tạm giữ tang vật, tài sản gồm: Số tiền 2.000.000 đồng trên người của bị cáo Đô; 01 cây kéo, 01 cây tua vít, 01 xe mô tô biển số 71C3- 604.77 nhãn hiệu HONDA, số loại: Future FI, màu sơn: xanh - đen, số máy: JC90E0533041, số khung: RLHJC7651PY331687 đã qua sử dụng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger