Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN AN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HS-ST

Ngày 13 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Phan .

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Thu Hà.

Bà Nguyễn Thị Thuận.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trần Vy –Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Thạch Quanh Thây - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/QĐHPT-HS ngày 13/5/2025 đối với bị cáo:

- Châu Tuấn T, sinh năm 2000 tại Long An.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang; Chỗ ở hiện tại: Số C, Quốc lộ F, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Châu Tuấn K và bà Lê Thị M; vợ tên Phạm Thị Phương D, bị cáo không có con.

Tiền án: Ngày 07/06/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 12/10/2022.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/6/2024 đến ngày 10/6/2024 chuyển sang tạm giam cho đến nay tại Phân trại Tạm giam khu vực T (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Chị Phạm Thị Phương D, sinh năm 2002; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp A, xã T, huyện M, tỉnh Long An; Chỗ ở hiện nay: B41, đường B, khu dân cư L city, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An (vắng mặt).

+ Anh Nguyễn Văn Hoàng H, sinh năm 2001; Địa chỉ: Số H, đường P, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An (vắng mặt).

+ Anh Lạc Nguyễn Gia H1, sinh năm 2004; Địa chỉ: Số C, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 31/5/2024 lực lượng phòng chống tội phạm về ma túy kiểm tra tại cửa hàng bán quần áo địa chỉ số C, đường N, phường C, thành phố T, Long An nơi T thuê để kinh doanh. Quá trình kiểm tra phát hiện thu giữ 01 gói nylon rãnh khép viền đỏ đựng 10 viên nén màu xám và 01 túi nylon có rãnh khép viền đỏ bên trong chứa tinh thể màu trắng. Qua điều tra T khai nhận: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, để có tiền sử dụng trái phép chất ma túy T đã mua ma túy về sử dụng và bán lại cho các đối tượng nghiện ma túy, cụ thể:

Ngày 20/5/2024 T dùng ứng dụng T1 gọi cho Lê D1 (sống ở Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không rõ họ tên địa chỉ) để đặt mua ma túy gồm: 20 con kẹo, 02 hộp 10 khay và 50 bịch ma túy nước vui với số tiền là 90.000.000đ. Khoảng 03 giờ sau có một người đàn ông đến giao ma túy cho T. Sau khi kiểm tra đủ số lượng và loại ma túy đã đặt mua T đã đưa cho người đàn ông số tiền 90.000.000đ. Từ ngày 20/5/2024 T đã sử dụng cùng với bạn tên L và một số người bạn khác tại quán K1 và Karaoke Đ thuộc huyện Đ tỉnh Long An. Ngoài ra T còn bán cho một số đối tượng gồm:

  1. Nguyễn Văn Hoàng H, sinh năm 2001; địa chỉ: Số H, đường P, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An tổng cộng 04 bịch ma túy nước giá mỗi bịch 2.250.000₫.
  2. Lạc Nguyễn Gia H1, sinh năm 2004; địa chỉ: số C, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Long An tổng cộng 02 lần, lần thứ nhất là 01 viên thuốc lắc (kẹo) với giá tiền là 250.000đ, lần thứ hai là nữa hộp năm khay (Ketamine) với giá tiền là 2.200.000₫.
  3. Đối tượng tên B (không rõ họ tên, địa chỉ) ở Phường G, thành phố T, Long An 02 bịch ma túy nước giá mỗi bịch 2.250.000đ.
  4. Đối tượng M1 (không rõ họ tên, địa chỉ) ở xã B, huyện C, Long An 02 con kẹo giá mỗi con là 250.000đ và 02 bịch ma túy nước giá mỗi bịch 2.250.000đ.
  5. Đối tượng tên M2 (không rõ họ tên, địa chỉ) ở Phường E, thành phố T 02 bịch ma túy nước giá mỗi bịch 2.250.000đ, 02 con kẹo giá mỗi con là 250.000đ.
  6. Đối tượng tên T2 mập (không rõ họ tên, địa chỉ) ở Phường T, thành phố T tổng cộng 07 bịch ma túy nước giá mỗi bịch 2.250.000đ.
  7. Đối tượng tên L1 (không rõ họ tên, địa chỉ) nhà ở xã V, huyện C, Long An 02 con kẹo giá mỗi con là 250.000đ và 02 bịch ma túy nước giá 2.250.000đ.
  8. Đối tượng tên Hoàng E (không rõ họ tên, địa chỉ) nhà ở xã V, huyện C, Long An 02 bịch ma túy nước giá mỗi bịch 2.250.000đ.
  9. Đối tượng tên H1 (không rõ họ tên, địa chỉ) chạy taxi 01 con kẹo và 01 bịch ma túy nước giá tổng cộng là 2.700.000đ.
  10. Đối tượng tên Minh T3 (không rõ họ tên, địa chỉ) nhà ở thị trấn T 04 bịch ma túy nước giá mỗi bịch 2.250.000đ.
  11. Nguyễn Hữu S, sinh năm 1997; địa chỉ: số A, ấp H, xã A, thành phố T, tỉnh Long An 02 con kẹo giá mỗi con là 250.000đ và 04 bịch ma túy nước giá 8.800.000đ.

Quá trình mua bán ma túy, bị cáo thu lợi được số tiền 24.150.000đ.

Tại bản kết luận giám định số: 390/KL-KTHS ngày 07/06/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh L xác định:

- Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon có rãnh khép viền đỏ được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 8,5465 gam, loại Ketamine.

- 10 (mười) viên nén màu xám đựng trong 01 (một) túi nylon có rãnh khép viền đỏ được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 5,0283 gam, loại MDMA.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 (một) gói nylon màu trắng có rãnh khép sọc đỏ chứa: 01 (một) gói nylon màu trắng có rãnh khép sọc đỏ bên trong chứa tinh thể màu trắng và 10 viên nén màu xám.

- 01 (một) cân điện tử tiểu ly, màu trắng.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, số máy MQ863ZA/A, số sê - ri: VR654H7VRX, IEMI: 357730381448928.

- 01 (một) xe mô tô hiệu HONDA, loại Click, màu trắng - đen, biển số 59T2 - 263.79, số máy: JFVE1E859597, số khung: MH1JFVE110JK854798.

Cáo trạng số 15/CT-VKSTA-HS ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố bị cáo Châu Tuấn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Châu Tuấn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu; bị cáo không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định và không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Châu Tuấn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, về hình phạt chính:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Châu T4 Tính từ 07 năm đến 08 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật sau giám định có khối lượng 7,9480gam (tinh thể màu trắng) và 4,0214 gam (viên nén màu xanh) và vỏ bao đựng mẫu giám định được đóng gói niêm phong số 390; 01 (một) cân điện tử tiểu ly, màu trắng.

- Tịch thu sung công quỹ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, số máy MQ863ZA/A, số sê ri: VR654H7VRX, IEMI: 357730381448928.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: số tiền thu lợi bất chính là 24.150.000đ.

Buộc bị cáo Châu Tuấn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo biết mình sai và hối hận với hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện hợp pháp.

[2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Phạm Thị Phương D, Nguyễn Văn Hoàng H, Lạc N vắng mặt tại phiên tòa nhưng xét thấy trong giai đoạn điều tra đã thể hiện đầy đủ lời khai và ý kiến của các đương sự này nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự này theo quy định tại điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham

gia tố tụng khác, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, phù hợp với sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở để kết luận: Châu Tuấn T là đối tượng nghiện ma túy, muốn có tiền mua ma túy để sử dụng ngày 20/5/2024 T đã sử dụng số tiền 90.000.000₫ mua ma túy về sử dụng và bán lại cho nhiều người. Ngày 31/5/2024 lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an thành phố T phát hiện bắt quả tang tại nơi Châu Tuấn T thuê để kinh doanh tại địa chỉ số C, đường N, Phường C, thành phố T, tỉnh Long An có 8,5465 gam ma túy loại Ketamine và 5,0283 gam loại MDMA. Do đó, đủ cơ sở để kết luận hành vi nêu trên của bị cáo Châu Tuấn T đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Về tình tiết định khung hình phạt: Từ ngày 20/5/2024 đến ngày 31/5/2024 bị cáo T bán ma túy cho nhiều người, quá trình điều tra xác định bị cáo có bán ma túy cho Nguyễn Văn Hoàng H và Lạc Nguyễn Gia H1 do đó bị cáo phải chịu tình tiết định khung là “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật. Ngoài ra, số lượng ma túy bị cáo dùng để mua bán tại thời điểm thu giữ có khối lượng 5,0283 gam loại MDMA là vi phạm tình tiết định khung quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, tuy nhiên cáo trạng không đề cập là thiếu sót. Do đó có cơ sở xác định bị cáo Châu Tuấn T phạm tội “mua bán trái trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[5] Xét, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị tại địa phương. Ma túy là hiểm họa của con người, cộng đồng và xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Mặc dù biết rõ tác hại của ma túy và nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì mục đích thu lợi cho bản thân nên bị cáo đã bất chấp để thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã từng bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy, tuy nhiên bị cáo không lấy đó là bài học mà khi chấp hành án xong bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo, vì vậy cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc mới tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[6] Về các tình tiết tăng nặng: Ngày 07/6/2021 bị Tòa án nhân dân huyện

Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[7] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi bị bắt, bị cáo khai ra các lần bán ma túy vì vậy cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội tự thú quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[8] Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 07 năm đến 08 năm tù, Hội đồng xét xử xét thấy mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử chấp nhận.

[9] Biện pháp tư pháp:

[9.1] Mẫu vật sau giám định có khối lượng 7,9480gam (tinh thể màu trắng) và 4,0214 gam (viên nén màu xanh) và vỏ bao đựng mẫu giám định được đóng gói niêm phong số 390; 01 (một) cân điện tử tiểu ly, màu trắng, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

[9.2] Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, số máy MQ863ZA/A, số sê – ri: VR654H7VRX, IEMI: 357730381448928, đây là phương tiện sử dụng vào mục đích phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[9.3] Quá trình điều tra bị cáo khai nhận quá trình mua bán ma túy, bị cáo thu được số tiền lời là 24.150.000đ, xét thấy, đây là số tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử quyết định buộc bị cáo phải nộp lại để sung ngân sách nhà nước.

[10] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T cùng đối tượng tên L tại quán K1 và Karaoke Đ thuộc huyện Đ tỉnh Long An. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã thông báo cho Công an huyện Đ xử lý theo thẩm quyền là phù hợp.

[11] Đối với đối tượng tên Lê D1 tại Thành phố Hồ Chí Minh (không rõ họ tên, địa chỉ) không đủ cơ sở để Cơ quan cảnh sát điều tra xác minh.

[12] Các đối tượng còn lại đã mua ma túy của bị cáo T qua xác minh chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp.

[13] Đối với Dương Minh N và Trần Lệ X khi kiểm tra có mặt tại hiện trường. Tuy nhiên không có liên quan đến hành vi phạm tội của Châu Tuấn T nên không xem xét trách nhiệm hình sự. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Dương Minh N, Nguyễn Văn Hoàng H Cơ quan cảnh sát điều tra đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

[14] Đối với xe mô tô hiệu Click, màu trắng, biển số 59T2 - 263.79 Tình mua của một người bạn tại Thành phố Hồ Chí Minh không làm hợp đồng mua bán. Qua xác minh xác định xe mô tô thuộc sở hữu của bà Huỳnh Yến T5, sinh năm 1990, ngụ: B T, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương bị mất trộm vào ngày 19/7/2020 tại thành phố T, tỉnh Bình Dương. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã thông báo cho Cơ quan Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương giải quyết theo thẩm quyền là phù hợp.

[15] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Châu Tuấn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào điểm b, i khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s, r khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
  2. Xử phạt bị cáo Châu Tuấn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 01/6/2024.
  3. Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Châu Tuấn T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (13/6/2025) để đảm bảo cho việc thi hành án.
  4. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật sau giám định có khối lượng 7,9480gam (tinh thể màu trắng) và 4,0214 gam (viên nén màu xanh) và vỏ bao đựng mẫu giám định được đóng gói niêm phong số 390; 01 (một) cân điện tử tiểu ly, màu trắng.
    • - Tịch thu sung công quỹ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, số máy MQ863ZA/A, số sê – ri: VR654H7VRX, IEMI: 357730381448928.
    • (Các vật chứng và số tiền trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An đang quản lý theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 24/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An)
    • - Buộc bị cáo Châu Tuấn T phải nộp số tiền thu lợi bất chính là 24.150.000đ để sung ngân sách nhà nước.
  5. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa. Buộc bị cáo Châu Tuấn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi Nhận :

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - VKSND Tp Tân An;
  • - CA tỉnh Long An;
  • - Chi cục THA Tp Tân An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An;
  • - Bị cáo; Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ; VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Tuấn Phan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về hình sự: mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 46/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Châu Tuấn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger