|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2025/HS-ST Ngày 11-6-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Bích Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1.Ông Kim Văn Chiến;
- 2.Bà Hoàng Thị Hanh.
-Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Vân Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh ngày 26/3/1975; nơi sinh và cư trú: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn K (Trần K), sinh năm 1947 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1947; vợ: Vương Thị H, sinh năm 1975, con: có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2005; tiền sự: Không; tiền án: Có 01 tiền án: Bản án số 08/2024/HS-ST ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương xử phạt 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án về tội “Đánh bạc”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/12/2024 đến 30/12/2024. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- -Anh Đỗ Văn P, sinh năm 1982 (vắng mặt);
- -Ông Vũ Văn P1, sinh năm 1975 (vắng mặt).
Đều có địa chỉ cư trú: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người làm chứng: Ông Đỗ Văn K1, sinh năm 1965, địa chỉ cư trú: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trần Văn T là người đang phải chấp hành hình phạt 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng của Bản án số 08/2024/HSST ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương về tội “Đánh bạc”. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 21/12/2024 anh Đỗ Văn P, ông Vũ Văn P1 và ông Đỗ Văn K1 đến quán bia của T Trần Văn tại nhà riêng ở thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc uống bia. Sau đó, anh Đỗ Văn P hỏi mua số lô nên T đồng ý và bán cho anh Đỗ Văn P số lô 40 với 30 điểm (01 điểm với giá 22.000đ) hết số tiền là 660.000₫ (sáu trăm sáu mươi nghìn đồng), P đưa tiền cho T rồi T viết số lô P mua vào tờ giấy A4 đầu tiên của kẹp giấy. Sau đó, ông Vũ Văn P1 đưa cho T 01 mảnh giấy được xé từ tờ lịch có ghi sẵn nội dung những số đề kép bằng (là những số đề 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99) mỗi số với số tiền là 50.000đ và mua thêm các số đề 44, 99, 11, 66, 13, 31 mỗi số với số tiền là 50.000đ. Tổng số tiền ông Vũ Văn P1 mua số đề của Trần Văn T là 800.000đ (tám trăm nghìn đồng), ông P1 đưa tiền cho T rồi T viết những số đề ông P1 mua vào tờ giấy A4 ghi số lô của anh P. Khi anh Đỗ Văn P và ông Vũ Văn P1 mua số lô, số đề của Trần Văn T thì ông Đỗ Văn K1 ngồi tại bàn trong quán bia của T và chứng kiến sự việc. Khoảng 17 giờ 45 phút cùng ngày, lực lượng Công an huyện Tam Dương cùng Công an xã Hoàng Đan tiến hành kiểm tra phát hiện và bắt quả tang Trần Văn T đang có hành vi ghi bán số lô, số đề và thu giữ, niêm phong các đồ vật, tài liệu, tài sản liên quan. Quá trình bắt quả tang, cơ quan Công an thu giữ: Tại vị trí mặt bàn trước mặt vị trí Trần Văn T đang ngồi phát hiện, thu giữ: 01 kẹp giấy tờ có kẹp 05 tờ giấy A4, tờ đầu tiên có viết các kí tự; những tờ còn lại đều là giấy trắng; 01 mảnh giấy được xe ra từ tờ lịch, bên trên có ghi các số kí tự; 01 quyển sổ học sinh Campus, bên trong ghi các kí tự; 01 bút bi mực xanh, kí hiệu TL-027.
- Thu giữ trên người Trần Văn T: Số tiền 1.100.000 đồng ở trên tay phải; số tiền 1.457.000 đồng tại túi quần trước bên phải; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A11 màu xanh ngọc, đã qua sử dụng không có mật khẩu mở khóa màn hình. Thu giữ của Đỗ Văn P 01 điện thoại di động OPPO A5 2020 màu đen đã qua sử dụng, mật khẩu mở khóa màn hình “020882”. Thu giữ của Vũ Văn P1 01 điện thoại di động OPPO A3x màu xanh đã qua sử dụng, không có mật khẩu mở khóa màn hình. Tiến hành kiểm tra tại quán bia của Trần Văn T không phát hiện, thu giữ gì.
Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề trái phép và phụ thuộc vào kết quả của giải xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng trong ngày, cách tính tỷ lệ như sau: Số lô là số tự nhiên bất kì có hai chữ số trong dãy số từ 00 đến 99 do khách chọn, mỗi một điểm lô thì T bán với giá 22.000 đồng. Nếu số lô của khách mua trùng với hai số cuối của bất kỳ một giải thưởng nào (từ giải đặc biệt đến giải bảy) thì khách sẽ thắng và được T trả tiền theo tỷ lệ cứ một điểm lô khách được 80.000 đồng. Trường hợp số lô khách mua trùng với hai số cuối của nhiều giải thì số tiền khách được hưởng tương ứng cứ nhân lên theo số lượng nhưng không được hưởng quá ba lần (kép ba). Trường hợp số lô khách mua không trùng với hai số cuối của giải thưởng nào thì khách thua và bị mất số tiền mua số lô đó. Số đề là số tự nhiên bất kỳ có hai chữ số trong dãy số từ 00 đến 99 do khách chọn, nếu khách mua số đề loại 02 số mà trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì khách sẽ thắng và được T trả cho số tiền gấp 70 lần lượng tiền khách mua số đề đó.
Ngoài ra, Trần Văn T còn khai nhận trước khi bán số lô, số đề trái phép, T có trao đổi, thống nhất với Phan Đức T1, sinh năm 1974, hộ khẩu thường trú: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc về việc T sẽ chuyển toàn bộ các số lô, số đề bán được cho T1 để được hưởng tiền hoa hồng. Mỗi một điểm lô bán được, T1 sẽ cho T hưởng 300 đồng, đối với số đề, T được hưởng 08% trên tổng số tiền bán số đề cho khách. Ngày 21/12/2024 là lần đầu tiên T bán số lô, số đề nhưng chưa kịp so sánh thắng thua, chưa kịp chuyển số lô, số đề cho T1 thì đã bị Cơ quan công an bắt quả tang.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tam Dương đã tiến hành kiểm tra đối với ba chiếc điện thoại di động thu giữ được của Trần Văn T; Vũ Văn P1 và Đỗ Văn P. Kết quả không phát hiện dữ liệu liên quan đến hành vi phạm tội.
Đối với anh Đỗ Văn P và ông Vũ Văn P1 ngày 21/12/2024 anh P và ông P1 mua số lô, số đề của Trần Văn T với tổng số tiền là 660.000 đồng và 800.000 đồng. Bản thân hai đối tượng chưa có tiền án, tiền sự về các hành vi “Đánh bạc, G bạc hay tổ chức đánh bạc” nên hành vi của anh P và ông P1 không cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại điều 321 Bộ luật hình sự. Ngày 17/01/2025, Công an huyện Tam Dương đã có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đỗ Văn P và Vũ Văn P1 về hành vi mua các số lô, số đề.
Đối với Phan Đức T1, sinh năm 1974, ở thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc theo lời khai của T là người có thỏa thuận từ trước với Trần Văn T về việc chuyển bảng số lô, số đề để hưởng hoa hồng. Tuy nhiên ngày 21/12/2024, Trần Văn T chưa kịp chuyển các số lô, số đề cho T1 thì đã bị bắt giữ. Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập Phan Đức T1 để làm việc nhưng hiện nay Phan Đức T1 không có mặt tại địa phương nên cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Về vật chứng: 01 kẹp giấy, 05 tờ giấy A4 trong đó tờ đầu tiên có viết các kí tự, những tờ còn lại đều là giấy trắng; 01 mảnh giấy được xé ra từ tờ lịch, bên trên có ghi các số kí tự; 01 quyển sổ học sinh Campus, bên trong ghi các kí tự; 01 bút bi mực màu xanh, ký hiệu TL-027; ảnh chụp trang giấy A4 và tờ lịch có ghi các kí tự là các số lô, số đề T bán cho P và P1 đưa vào hồ sơ vụ án. Quá trình điều tra xác định đây đều là những công cụ Trần Văn T sử dụng vào mục đích mua bán số lô, số đề.
- Số tiền 2.557.000 đồng thu được trên người Trần Văn T, quá trình điều tra xác định trong số tiền này có 1.460.000 đồng là tiền Trần Văn T bán số lô, số đề cho Đỗ Văn P và Vũ Văn P1, còn lại 1.097.000 đồng là tiền cá nhân do T lao động hợp pháp mà có.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A11, màu xanh ngọc, đã qua sử dụng, không có mật khẩu mở khóa màn hình là tài sản hợp pháp của Trần Văn T, không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Đối với 01 điện thoại di động OPPO A5 2020 màu đen, đã qua sử dụng, thu giữ của Đỗ Văn P. Xác định đây là tài sản hợp pháp của P, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho P. Đối với 01 điện thoại di động OPPO A3x màu xanh, đã qua sử dụng, thu giữ của Vũ Văn P1. Xác định đây là tài sản hợp pháp của P1, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho P1.
Tại cơ quan điều tra, Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên, lời khai của T phù hợp với lời khai của người liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.
Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKSTD ngày 13/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội: “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Đánh bạc”. Đề nghị:
-Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 5 Điều 65; Điều 56 Bộ luật hình sự. Xử phạt Trần Văn T từ 07 tháng đến 09 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 01(một) năm 03 (ba) tháng tù của bản án số 08/2024/HSST ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Buộc bị cáo Trần Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 01 năm 10 tháng tù đến 02 năm tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/12/2024 đến ngày 30/12/2024 và thời gian tạm giữ theo bản án số 08/2024/HSST ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương từ ngày 23/9/2023 đến ngày 01/10/2023.
-Áp dụng Khoản 3 Điều 321 Bộ Luật hình sự đề nghị phạt bổ sung đối với bị cáo T từ 10.000.000đ đến 12.000.000đ.
Về vật chứng đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Lưu hồ sơ 05 tờ giấy A4, tờ đầu tiên có viết các kí tự, những tờ còn lại đều là giấy trắng; 01 mảnh giấy được xé ra từ tờ lịch, bên trên có ghi các số kí tự; 01 quyển sổ học sinh Campus, bên trong ghi các kí tự;
- - Lưu hồ sơ ảnh chụp trang giấy A4 và tờ lịch có ghi các kí tự là các số lô, số đề T bán cho P và P1;
- Tịch thu tiêu hủy 01 kẹp giấy; 01 bút bi mực màu xanh, ký hiệu TL-027;
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 1.460.000 đồng là tiền Trần Văn T bán số lô, số đề cho Đỗ Văn P và Vũ Văn P1; trả lại cho Trần Văn T số tiền 1.097.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A11, màu xanh ngọc, đã qua sử dụng, không có mật khẩu mở khóa màn hình là tài sản hợp pháp của Trần Văn T, không liên quan đến hành vi phạm tội. Đề nghị trả lại cho Trần Văn T nhưng tạm giữ đề đảm bảo thi hành án.
Về án phí đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Tam Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương đã truy tố và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Bị cáo không có lời bào chữa nào khác. Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Do vậy, có đủ cơ sở chứng cứ khách quan để kết luận: Trần Văn T là người đang chấp hành hình phạt 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc” theo Bản án hình sự số 08/2024/HSST ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 21/12/2024, tại quán bia của Trần Văn T ở thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Trần Văn T đã có hành vi bán số lô cho Đỗ Văn P với số tiền 660.000 đồng; bán số đề cho Vũ Văn P1 với số tiền 800.000 đồng. Tổng số tiền Trần Văn T đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô, số đề ngày 21/12/2024 là 1.460.000 đồng. Bản thân Trần Văn T đang có một tiền án về tội “Đánh bạc” chưa được xoá án tích theo quy định, nay lại thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề với tổng số tiền 1.460.000đ nên hành vi của Trần Văn T đã cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Điều 321 quy định:“ 1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá ... dưới 5.000.000 đồng nhưng ... đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
[2]. Xét tính chất vụ án tuy là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, xâm phạm trật tự trị an, an toàn xã hội. Bị cáo đã bị xét xử về hành vi “Đánh bạc” đang trong thời gian chấp hành hình phạt, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm vẫn tiếp tục thực hiện hành vi “ Đánh bạc” nên cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo đang chấp hành hình phạt 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng của bản án số 08/2024/HSST ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương thì ngày 21/12/2024 bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới, như vậy bị cáo phạm tội mới trong thời gian thử thách của án treo như vậy cần tổng hợp với hình phạt của bản án số 08/2024/HSST ngày 19/01/2024 theo quy định của Khoản 5 Điều 65 và Điều 56 Bộ luật hình sự. Trong vụ án này thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/12/2024 đến ngày 30/12/2024; Theo bản án số 08/2024/HSST ngày 19/01/2024 bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/9/2023 đến 30/10/2024. Thời gian tạm giữ từ của hai bản án sẽ được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bố đẻ bị cáo là người có công với nước được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Ba. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào. Tình tiết giảm nhẹ nêu trên được xem xét khi quyết định hình phạt.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Đối chiếu với hành vi các bị cáo đã thực hiện cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với mỗi bị cáo từ 10.000.000đ đến 12.000.000đ.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - 05 tờ giấy A4, tờ đầu tiên có viết các kí tự, những tờ còn lại đều là giấy trắng; 01 mảnh giấy được xé ra từ tờ lịch, bên trên có ghi các số kí tự; 01 quyển sổ học sinh Campus, bên trong ghi các kí tự lưu hồ sơ vụ án nên không xem xét giải quyết;
- - Ảnh chụp trang giấy A4 và tờ lịch có ghi các kí tự là các số lô, số đề T bán cho P và P1 cần lưu vào hồ sơ vụ án nên không xem xét giải quyết;
- - 01 kẹp giấy; 01 bút bi mực màu xanh, ký hiệu TL-027 là công cụ T thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu tiêu hủy;
- - Số tiền 2.557.000 đồng thu được trên người Trần Văn T, quá trình điều tra xác định trong số tiền này có 1.460.000 đồng là tiền Trần Văn T bán số lô, số đề cho Đỗ Văn P và Vũ Văn P1, còn lại 1.097.000 đồng là tiền cá nhân do T lao động hợp pháp mà có. Cần tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 1.460.000 đồng, trả lại cho Trần Văn T số tiền 1.097.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A11, màu xanh ngọc, đã qua sử dụng, không có mật khẩu mở khóa màn hình là tài sản hợp pháp của Trần Văn T, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cần trả lại cho Trần Văn T nhưng tạm giữ đề đảm bảo thi hành án.
- - 01 điện thoại di động OPPO A5 2020 màu đen, đã qua sử dụng, thu giữ của Đỗ Văn P. Xác định đây là tài sản hợp pháp của P, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho P. Đối với 01 điện thoại di động OPPO A3x màu xanh, đã qua sử dụng, thu giữ của Vũ Văn P1. Xác định đây là tài sản hợp pháp của P1, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho P1 nên không xem xét giải quyết.
[6]. Về án phí: Bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Đánh bạc”.
- Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Khoản 5 Điều 65; Điều 56 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 08(tám) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 01(một) năm 03 (ba) tháng tù của bản án số 08/2024/HSST ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Buộc bị cáo Trần Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 01(một) năm 11( mười một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/12/2024 đến ngày 30/12/2024 và thời gian tạm giữ theo bản án số 08/2024/HSST ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương từ ngày 23/9/2023 đến ngày 01/10/2023.
- Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự: Phạt bị cáo Trần Văn T 10.000.000đ (mười triệu đồng chẵn).
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.460.000đồng tạm giữ của Trần Văn T;
- - Tịch thu tiêu hủy 01 kẹp giấy; 01 bút bi mực màu xanh, ký hiệu TL-027;
- - Trả lại cho Trần Văn T số tiền 1.097.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
- - Trả lại cho Trần Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A11, màu xanh ngọc, đã qua sử dụng, không có mật khẩu mở khóa màn hình nhưng tạm giữ đề đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí toà án bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày được giao bản án hoặc bản án đượng niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Lê Thị Bích Ngọc |
Bản án số 46/2025/HS-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: 46/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T phạm tội Đánh bạc
