Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ B

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HS-ST

Ngày: 11-4-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Tỵ và bà Nguyễn Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2025/TLST- HS ngày 26 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Tạ Ngọc T, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 10/8/1994, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú: Số F N, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng và nơi cư trú: Thôn B'Đơr, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; nghề nghiệp: Làm vườn; con ông Tạ Ngọc S, sinh năm 1968 và bà Trần Hoa Khánh L, sinh năm 1967; vợ: chưa có, con: Có 01 con sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân:

  • + Ngày 28/03/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 42 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 18/2011/HSST (bị can là người chưa thành niên khi phạm tội nên không bị xem là có án tích).
  • + Ngày 21/05/2020 bị Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố B ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 64/QĐ-UBND đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chấp hành xong ngày 21/11/2020).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam tại Phân Trại tạm giam B-Phòng PCông an tỉnh L từ ngày 31/12/2024 cho đến nay. Có mặt.

+ Người làm chứng: Anh Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 2001, nơi thường trú: thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

+ Người chứng kiến: Anh Trần Trường G, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ A, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 31/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B tiến hành kiểm tra tại phòng trọ số A, dãy trọ địa chỉ 61, đường H, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, tại thời điểm kiểm tra, trong phòng số 10 có Tạ Ngọc T, sinh năm 1994, nơi thường trú: Số F N, phường B, thành phố B, Lâm Đồng, nơi ở hiện tại: thôn B'Đơr, xã L, huyện B, Lâm Đồng và Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 2001, nơi thường trú: thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Qua kiểm tra vận động, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B phát hiện tại túi phía sau, bên trái của quần jeans dài màu xám Tạ Ngọc T đang mặc có 01 (một) gói nylon có rãnh khép kín, vạch kẻ màu đỏ, kích thước 04cm x 07cm, bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy. Công an thành phố B đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Tạ Ngọc T đồng thời thu giữ, niêm phong tang vật nêu trên.

Quá trình điều tra đã xác định được như sau: 01 gói nylon rãnh khép kín, vạch kẻ ngang màu đỏ, kích thước 04cm x 07cm, bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng thu giữ trong túi quần jeans của Tạ Ngọc T là ma túy, T tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy trên T được một người tên T1 cho vào sáng ngày 31/12/2024 tại khu vực cầu L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi nhận được ma túy, T bỏ vào túi quần rồi đến phòng số 10 của dãy nhà trọ tại F H, phường B, thành phố B do Phan Thành C, sinh năm 1997, NKTT: làng trẻ em SOS, phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng là người quen của T đang thuê ở đây, tại thời điểm T đến thì trong phòng số 10 không có C mà chỉ có Nguyễn Hữu Đ là em họ của C đang ở đây, khi T ngồi chơi được một lúc thì bị Cơ quan điều tra kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Việc tàng trữ trái phép chất ma túy của T, Nguyễn Hữu Đ không biết không có hành vi giúp sức gì. Kết quả xét nghiệm ma túy Tạ Ngọc T dương tính với chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 02/KL-KTHS ngày 06/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Chất tinh thể rắn đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 1,0146 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ.

Bản Cáo trạng số 32/CT-VKSBL, ngày 11 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Tạ Ngọc T về tội “Tàng trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tạ Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Tạ Ngọc T từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã thu giữ:

Đối với 02 phong bì niêm phong số 02/2025-PC09. Đây là vật chứng chứng minh tội phạm nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 quần Jean dài màu xám. Đây là tài sản của bị cáo, bị cáo đề nghị tiêu hủy nên ghi nhận.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

+ Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về bản Cáo trạng và không có tranh luận, đối đáp với Kiểm sát viên.

+ Bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, là sai trái, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi cấu thành tội phạm: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa bị cáo Tạ Ngọc T đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung bản Kết luận điều tra; nội dung Kết luận giám định; biên bản bắt người phạm tội quả tang; lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.

Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Vào ngày 31/12 /2024 tại phòng trọ số A, dãy trọ địa chỉ: Số F H, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Tạ Ngọc T đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 1,0146 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố B phát hiện và lập biên bản bắt quả tang cùng tang vật.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành

phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất và mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ trái phép chất ma túy được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì thái độ xem thường kỷ cương pháp luật, gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và nhằm mục đích thoả mãn cho nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo thực hiện tội phạm nghiêm trọng gây mất trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo. Vì vậy, cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[7] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, cần cách ly khỏi xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra.

[8] Phạt bổ sung: Bị cáo là người sử dụng ma túy nên miễn phạt bổ sung.

[9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý như sau:

Đối với 02 phong bì niêm phong số 02/2025-PC09. Dây là vật chứng chứng minh tội phạm nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 quần Jean dài màu xám. Đây là tài sản của bị cáo, bị cáo đề nghị tiêu hủy nên ghi nhận.

[10] Các vấn đề khác:

Đối với Phan Thành C là người thuê phòng tại phòng trọ số 10 dãy trọ, địa chỉ số F, đường H, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng và Nguyễn Hữu Đ là người có mặt tại phòng khi Tạ Ngọc T bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình điều tra đã đủ căn cứ xác định Phan Thành C và Nguyễn Hữu Đ không biết và không có hành vi giúp sức cho Tạ Ngọc T trong việc tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì vậy, không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Phan Thành C và Nguyễn Hữu Đ.

Đối với đối tượng tên T1 đã cho Tạ Ngọc T ma túy vào ngày 31/12/2024 tại khu vực cầu L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình điều tra không xác định

được nhân thân, lai lịch của đối tượng trên nên tách ra và tiếp tục xác minh, khi có căn cứ thì xử lý sau.

[11] Xét ý kiến phát biểu trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là phù hợp với với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[12] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Tạ Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Tạ Ngọc T 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/12/2024.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu huỷ gồm: 02 phong bì niêm phong số 02/2025-PC09 và 01 quần Jean dài màu xám. Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/02/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về ..., án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Tạ Ngọc T phải chịu 200.000₫ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đông;
  • - VKSND thành phố Bc;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục T.H.A.DS thành phố B;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đức Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HS-ST ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 46/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T tàng trữ ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger