TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NGHỆ AN Bản án số: 46/2025/HS-ST Ngày: 10-12-2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Quang Như và ông Nguyễn Văn Thắng.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kỳ - Thẩm tra viên.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Phùng Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại điểm cầu T Tòa án nhân dân khu vực 2 - Nghệ An và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh N xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Quang K, tên gọi khác: không; sinh ngày 09 tháng 4 năm 1991, tại xã P, tỉnh Nghệ An; số CCCD: [...]; Nơi cư trú: Xóm A, xã P, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang C (đã chết) và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1960; vợ: Trần Thị S1, sinh năm 1988, con: 02 con; tiền sự, tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/8/2025 cho đến nay tại Trại Tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị S1, sinh năm 1988, địa chỉ: Xóm D, xã P, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 12/8/2025, Lê Quang K ngồi uống bia với anh Nguyễn Nhật B (sinh năm 1995, trú tại xóm A, xã P, tỉnh Nghệ An) tại quán B1 thuộc địa phận xã P, tỉnh Nghệ An thì nảy sinh ý định mua ma túy về để sử dụng. K sử dụng điện thoại đăng nhập vào ứng dụng Z gọi cho một người đàn ông tên M có tài khoản Zalo “thanhmanhdang” hỏi “Anh có hồng đó không, bán cho em mấy trăm để chơi” thì người đàn ông trả lời “Có, chạy lên mà lấy”. K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 37B2- 132.92 đi đến khu vực giáp ranh giữa xã P và xã V, tỉnh Nghệ An thì tiếp tục gọi cho người đàn ông nói “Em lấy bảy trăm” (ý hỏi mua ma túy với số tiền 700.000 đồng), người đàn ông trả lời “Bảy trăm thì được sáu con” (ý số tiền 700.000 đồng thì mua được 06 viên ma túy). K đi đến gần khu vực ngã tư đường liên xóm thuộc xã V, tỉnh Nghệ An rồi tiếp tục sử dụng ứng dụng Z gọi cho người đàn ông tên M thì được M chỉ địa điểm cất giấu ma túy ở một ngã tư đường liên xóm. K đi đến vị trí mà M chỉ dẫn thì phát hiện 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, bên trong chứa ma túy dạng hồng phiến. K cầm gói ma túy trên bằng tay trái rồi điều khiển xe mô tô quay về quán B1 để chở anh Nguyễn Nhật B đi về nhà. Khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, K chở anh B về đến khu vực đường liên xóm thuộc xóm N, xã T, tỉnh Nghệ An thì bị Công an xã T, tỉnh Nghệ An kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ trong tay trái K đang cầm 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, chứa 02 (hai) gói giấy thiếc màu vàng, bên trong mỗi gói chứa 03 (ba) viên nén hình tròn dẹt, màu hồng (nghi là ma túy); 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 37B2- 132.92; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu đỏ gắn thẻ sim số thuê bao 0981.628.723. Tổ công tác đã lập biên bản niêm phong vật chứng và đưa K về trụ sở để làm việc.
Ngày 13/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã đã thành lập Hội đồng mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong lại đối với số vật chứng thu giữ của Lê Quang K, xác định: Số viên nén hình tròn dẹt, màu hồng, thu giữ khi bắt quả tang Lê Quang K có khối lượng là 0,61 gam (Không phẩy sáu mươi mốt gam); đã lấy 02 viên tổng khối lượng 0,21 gam (không phẩy hai mươi mốt gam) gửi đi giám định (ký hiệu M1, M2). Còn lại 04 viên tổng khối lượng 0,4 gam (không phẩy bốn gam) được niêm phong và nhập Kho vật chứng Công an tỉnh N.
Tại kết luận giám định số 349/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 18/8/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận:
- “- Các mẫu viên nén hình tròn, dẹt, màu hồng (ký hiệu M1, M2) thu giữ của Lê Quang K gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine.
- - Số viên nén hình tròn, dẹt, màu hồng thu giữ của Lê Quang K có khối lượng là 0,61 (Không phẩy sáu mươi mốt gam)".
Bản Cáo trạng số 19/CT-VKS - KV2 ngày 13 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Nghệ An đã truy tố bị cáo Lê Quang K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Xử phạt: Lê Quang K mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy:
- - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao bì chứa vật chứng và các dụng cụ sử dụng ma túy thu giữ của các bị cáo.
- - Trả lại cho bị cáo: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 37B2- 132.92.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu đỏ, số IMEI 1: 866376049800094, số IMEI 2: 866376049800086, gắn thẻ sim số thuê bao 0981.628.723.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lê Quang K nhất trí về tội danh, khung hình phạt, không có tranh luận gì và có lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và thật sự rất ân hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội, tội danh và khung hình phạt:
Quá trình điều tra và tại phiên toà, Lê Quang K khai nhận về hành vi mà các bị cáo thực hiện đúng như nội dung bản Cáo trạng truy tố, không có khai nại gì khác. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến và ý kiến luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp có tại hồ sơ vụ án, đã được xem xét và thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 12/8/2025, tại khu vực đường liên xóm thuộc địa phận xóm N, xã T, tỉnh Nghệ An, Lê Quang K đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,61 gam (Không phẩy sáu mươi mốt gam) chất ma túy (Methamphetamine) nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công an xã T, tỉnh Nghệ An phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng là số ma túy nêu trên.
Như vậy, Lê Quang K đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,61 gam chất ma túy (Methamphetamine). Do đó, có đủ cơ sở để xác định Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Nghệ An truy tố bị cáo Lê Quang K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội:
Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý đối với các loại chất ma túy. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội, làm cho quần chúng nhân dân hoang mang, lo lắng và còn là tác nhân của nhiều loại tệ nạn, tội phạm khác. Bị cáo Lê Quang K là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán và tàng trữ ma túy là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm, vì vậy cần phải xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm khắc, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung là thật sự cần thiết.
[4]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Lê Quang K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo còn có bố là những người có công với Nhà nước, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định, là người nghiện chất ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Các nội dung khác:
- - Theo lời khai của Lê Quang K, có đối tượng Đặng Văn M trú tại xã V, tỉnh Nghệ An là người đã bán ma túy cho bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã điều tra, xác minh được tại xóm A N, xã V, tỉnh Nghệ An có đối tượng nghi vấn tên Đặng Văn M (sinh năm 1985, trú tại xóm A N, xã V, tỉnh Nghệ An) và đã triệu tập làm việc, tiến hành lấy lời khai của đối tượng M, lập biên bản nhận dạng và biên bản đối chất giữa bị cáo và Đặng Văn M. Tuy nhiên, đối tượng M không thừa nhận, các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra chưa đủ căn cứ để xác định M có hành vi bán ma túy cho K nên không có căn cứ xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau nên không xem xét.
- - Trong vụ án này, có anh Nguyễn Nhật B là người biết Lê Quang K đi mua ma túy về sử dụng, nhưng B không tham gia trao đổi, thỏa thuận, góp tiền, giúp sức cho bị cáo mua ma túy, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo K nên miễn xét.
[7]. Quá trình điều tra có thu giữ các vật chứng gồm: 01 (một) phong bì thư Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh N, bên trong có: 01 (một) vỏ phong bì thư niêm phong ban đầu; 04 (bốn) viên nén hình tròn, dẹt, màu hồng tổng khối lượng 0,4 gam còn lại (sau khi đã lấy mẫu giám định không hoàn lại); 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 37B2- 132.92; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu đỏ, số IMEI 1: 866376049800094, số IMEI 2: 866376049800086, gắn thẻ sim số thuê bao 0981.628.723.
Xét thấy:
Đối với số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu gửi giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ, sử dụng và các vật chứng có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu đỏ, số IMEI 1: 866376049800094, số IMEI 2: 866376049800086, gắn thẻ sim số thuê bao 0981.628.723 bị cáo sử dụng để liên lạc tìm mua ma túy nên có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 37B2- 132.92, đăng ký xe mang tên Lê Quang K, tuy đây là tài sản thuộc quyền sở hữu chung của bị cáo và vợ là chị Trần Thị S1 nhưng chiếc xe là phương tiện bị cáo thường xuyên sử dụng và có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang K phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025)
Xử phạt: Lê Quang K 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 13/8/2025).
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự,
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong bằng phong bì thư của Phòng cảnh sát điều tra về ma túy Công an tỉnh N, trên mép dán chữ ký của Lê Quang K, chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng cảnh sát điều tra về ma túy Công an tỉnh N. Theo tài liệu phản ánh bên trong gói niêm phong có 04 viên ma túy, loại Methamphetamine với tổng khối lượng 0,4 gam; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Thăng Long cùng vỏ niêm phong.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 37B2- 132.92, xe có số máy: 5C64-936362, số khung: RLCS5C640CY936354.
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu đỏ, số IMEI 1: 866376049800094, số IMEI 2: 866376049800086, gắn thẻ sim số thuê bao 0981.628.723.
Các vật chứng trên có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2- Nghệ An, lập vào ngày 05/12/2025.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Lê Quang K phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| T.M/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hồng Vân |
Bản án số 46/2025/HS-ST ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 46/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Quang Khánh bị xử phạt: 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội Tàng trữ TPCMT
