Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HS-ST

Ngày 06/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán–Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lưu Văn Thủy.
  2. Bà Mai Thị Huyền Trang.

Thư ký phiên tòa: Bà Lương Nữ Vân Kiều–Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Hải Long -Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2025/HSST ngày 21/4/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-HS ngày 20/5/2025 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Quốc K -sinh năm 1995, tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh X -sinh năm 1958 và bà Lê Thị C -sinh năm 1964; Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị can bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm hoãn xuất cảnh và C1 đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/3/2025 đến nay tại xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Bà Võ Thị Hoài N -sinh năm 1965; Trú tại: Thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Minh X-sinh năm: 1958; địa chỉ: Thôn H, xã A-N-Ninh Thuận (có mặt).

Người làm chứng:

  • +Ông Phan C2 –sinh năm: 1964 (có mặt).
  • +Anh Phan Văn L –sinh năm: 1995 (vắng mặt).
  • +Anh Nguyễn Thành Q –sinh năm: 1992 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diện biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Sáng khoảng đầu tháng 01 năm 2024 (không rõ ngày), Nguyễn Quốc K điều khiển xe mô tô biển số 85D1-043.25 của gia đình đi từ nhà ở thôn H, xã A, huyện N, đến dựng xe ở cổng trường mầm non cạnh nhà bà Võ Thị Hoài N bán tạp hoá ở cùng thôn, K đi bộ đến nhà bà N, thấy gia đình bà N đang bận bán hàng cho khách nên K đã lén lút đi vào phòng khách, rồi đến phòng ngủ của bà N, lục tìm phát hiện trong ngăn tủ nhựa trên cùng có một túi xách màu đen có khoá kéo. K mở túi xách lấy đi số tiền 2.400.000đồng rồi đi bộ ra lấy xe chạy về nhà. Số tiền trộm cắp được, K tiêu xài cá nhân và trả nợ 1.000.000đồng cho anh trai là Nguyễn Thành Q, dùng 490.000đồng mua thuốc uống tại tiệm thuốc tây “Ngọc Duy" của anh Đinh Thành V. Khoảng ngày 07/01/2024, bà N mở tủ phát hiện đã bị mất tiền nhưng không báo cho cơ quan chức năng.

Đến khoảng 18 giờ ngày 28/01/2024, lợi dụng lúc bà N đang bán hàng, K tiếp tục đột nhập vào phòng ngủ của bà N để trộm cắp nhưng chưa kịp lấy gì thì bị gia đình bà N phát hiện và trình báo sự việc đến Công an xã A.

Vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tạm giữ:

  • +Số tiền 424.000đồng còn lại do K trộm cắp của bà N.
  • +01 xe mô tô biển số 85D1-043.25, là phương tiện K sử dụng khi trộm cắp tài sản-xác định là tài sản của ông Nguyễn Minh X (cha ruột K). Ông X không biết K sử dụng xe của ông làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả xe cho ông X.

Dân sự: Quá trình điều tra, ông Nguyễn Minh X (cha ruột K) đã thay K bồi thường cho bà Võ Thị Hoài N số tiền 2.400.000đồng. Bà N đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu gì thêm.

Bản cáo trạng số 39/CT-VKSNP ngày 18/4/2025 của Viện kiểm sát huyện N truy tố Nguyễn Quốc K về tội “trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phần tranh luận Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX: Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc K phạm tội “trộm cắp tài sản” và đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập.

Tại phiên tòa bị cáo không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo nhận thấy hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, xin HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. HĐXX nhận định:

  1. Tính hợp pháp của các hành vi quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra công an, Điều tra viên. Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, nên đủ cơ sở kết luận: Đầu tháng 01 năm 2024 (không rõ ngày), bị cáo Nguyễn Quốc K đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà của bà Võ Thị Hoài N, tại thôn H, xã A, huyện N, để trộm cắp số tiền 2.400.000đồng (hai triệu, bốn trăm ngàn đồng). Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại Khoản 1 Điều 173 BLHS, như quyết định truy tố của Viện kiểm sát huyện N là có căn cứ, đúng pháp luật.

    Nhận thấy bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng với bản tính tham lam, bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội, chứng tỏ bị cáo cố ý phạm tội. Vì vậy cần phải đưa bị cáo ra xử lý nghiêm.

  3. Xét tính chất mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hậu quả, nhân thân của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Quốc K là người có nhân thân tốt, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Gia đình bị cáo đã bồi thường dân sự cho người bị hại; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, h, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS.

    Do bị cáo Nguyễn Quốc K không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên được miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

  4. Xét quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát huyện N về việc định tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX xét thấy là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên chấp nhận.
  5. Dân sự: Ông Nguyễn Minh X (cha bị cáo) đã thay bị cáo bồi thường số tiền 2.400.000đồng cho bị hại và bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm. Tại phiên tòa ông X không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền này, nên HĐXX không xét.
  6. Biện pháp tư pháp: Số tiền 424.000đồng đang tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.1047598.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự Ninh Phước theo giấy ủy nhiệm chi lập ngày 13/5/2025, giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước. Đây là số tiền do bị cáo K trộm cắp của bà N chưa sử dụng.

    Do ông Nguyễn Minh X đã thay bị cáo bồi thường cho bị hại. Tại phiên tòa ông X xin được nhận lại số tiền này là phù hợp.

  7. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; Điểm b, h, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc K phạm tội “trộm cắp tài sản”.
  3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc K 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập.

    Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nhận được quyết định thi hành án.

    Giao bị cáo Nguyễn Quốc K cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận-nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

  4. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 48 của Bộ luật hình sự.

    Ông Nguyễn Minh X được nhận lại số tiền 424.000đồng (bốn trăm hai mươi bốn ngàn đồng) đang tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.1047598.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, theo giấy ủy nhiệm chi lập ngày 13/5/2025, giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước-Ninh Thuận.

  5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Quốc K phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, bị hại -quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06/6/2025).

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • -VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • -Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Ninh Thuận;
  • -VKSND huyện Ninh Phước;
  • -Chi cục THADS huyện Ninh Phước;
  • -Những người tham gia tố tụng;
  • -Lưu (hồ sơ, án văn)./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Xuân Thủy

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi giờ phút, ngày 06 tháng 6 năm 2025,

Tại phòng nghị án của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước-Ninh Thuận.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân T.

Các Hội thẩm Nhân dân: Ông Lưu Văn T1 và bà Mai Thị Huyền T2.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2025/HSST ngày 21/4/2025 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Quốc K-sinh năm 1995, tại Ninh Thuận.

Nơi cư trú: Thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận;

Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

  1. Về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với bị cáo:

    HĐXX thống nhất ý kiến đồng ý quan điểm của Viện kiểm sát huyện N truy tố bị cáo Nguyễn Quốc K phạm tội “trộm cắp tài sản”.

    Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm b, h, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.

  2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc K phạm tội “trộm cắp tài sản”.
  3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc K 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập.

    Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nhận được quyết định thi hành án.

    Giao bị cáo Nguyễn Quốc K cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận-nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Kết quả biểu quyết: 3/3.

  4. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 48 của Bộ luật hình sự.

    Ông Nguyễn Minh X được nhận lại số tiền 424.000đồng (bốn trăm hai mươi bốn ngàn đồng) đang tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.1047598.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, theo giấy ủy nhiệm chi lập ngày 13/5/2025, giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước-Ninh Thuận.

    Kết quả biểu quyết: 3/3.

  5. Về án phí:

    Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Quốc K phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

    Kết quả biểu quyết: 3/3.

  6. Về quyền kháng cáo:

    Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, bị hại -quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06/6/2025).

    Kết quả biểu quyết: 3/3.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HS-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 46/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quốc Khánh về tội “trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger