Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CHƠN THÀNH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Số: 46/2025/HS-ST

Ngày: 04 - 4 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Văn Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Minh Sơn

Bà Lương Thị Thu An

- Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Thanh Phương - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Bồ Đức Trọng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 và ngày 04 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/HSST ngày 10 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/HSST-QĐ ngày 17/3/2025 đối với các bị cáo:

  1. HOÀNG THỊ TƯƠI, sinh năm 1977 tại tỉnh Thái Bình; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không có; HKTT: Khu phố B, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước; Chỗ ở: Khu phố T, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Xuân N (đã chết) và bà: Nguyễn Thị T; Chồng: Phan Tiến D; Con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 1997 và nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/12/2024 đến ngày 31/12/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú đến nay.

  2. BÙI NHƯ TỬU, sinh năm 1960 tại tỉnh Thái Bình; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Ấp B, xã N, thị xã C, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Quốc H (đã chết) và bà Trần Thị N1; Vợ: Đậu Thị H1; Con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 1994 và nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 10/12/2020 bị Công an xã N, thị xã C, tỉnh Bình Phước xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 16/QĐ-XPHC số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/12/2024 đến ngày 31/12/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú đến nay.

  3. NGUYỄN VIẾT N2, sinh năm 1960 tại tỉnh Hà Tĩnh; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Ấp B, xã N, thị xã C, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T1 và bà: Phan Thị H2; Vợ: Phạm Thị T2; Con: có 02 người sinh năm 2005 và 2011; Tiền án, tiền sự: Không có. Nhân thân: Ngày 26/5/2011 bị Toà án nhân dân Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/12/2024 đến ngày 31/12/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú đến nay.

  4. NGUYỄN VIẾT T3, sinh năm 1974 tại tỉnh Hà Tĩnh; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; HKTT: Ấp B, xã N, thị xã C, tỉnh Bình Phước; Chỗ ở: Khu phố H, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T1 và bà: Phan Thị H2; Vợ: Đỗ Thị Bích V; Con: Có 01 người sinh năm 2017; Tiền sự: Không có; Tiền án: 01 (Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2021/HSST ngày 16/4/2021 của Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt số tiền 30.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”); Nhân thân: Ngày 27/12/1994, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Long, tỉnh Sông Bé xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự số 35/1994/HSST; Ngày 19/8/2005, bị Tòa án nhân dân Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt 7.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” tại Bản án hình sự số 35/2005/HSST; Ngày 24/3/2020 bị công an xã N, huyện C, (nay là thị xã C), tỉnh Bình Phước, xử phạt 1.500.000 đồng, về hành vi đánh bạc trái phép, tại Quyết định số 36/2020. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/12/2024 đến ngày 31/12/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú đến nay.

Tất cả các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Thị T4, Bùi Như T5, Nguyễn Viết T3 và Nguyễn Viết N2 có mối quan hệ là bạn bè và chơi chung với nhau. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 27/12/2024, T4 gọi điện rủ T5, T3 và N2 đến nhà tại khu phố T, phường H, thị xã C để đánh bạc thắng thua bằng tiền, hình thức chơi bài phỏm thì cả nhóm đồng ý. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, T5 điều khiển xe mô tô xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển số 93B1-424.92, T3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave RS, màu đen, biển số 47B1 -229.13 và N2 điều khiển xe mô tô nhân hiệu Wave, màu cam-xanh, biển số 6113-6144 đến nhà T4. Lúc này, T4 mang bộ bài tây ra và trải chiếu sau phòng bếp để T5, T3, N2 cùng T4 để bắt đầu chơi đánh bài phỏm thắng thua bằng tiền với mức thắng - thua 50.000 đồng - 100.000 đồng - 150.000 đồng - 200.000 đồng - 250.000 đồng. Đến 20 giờ cùng ngày, Công an thị xã C phối hợp Công an phường H tiến hành bắt người phạm tội quả tang các bị cáo trên.

Cách thức đánh bạc như sau: Cả nhóm sử dụng 01 bộ bài tây 52 lá bài gồm 36 lá bài được đánh số 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 và 16 lá bài được đánh ký hiệu A, J, Q, K. Mỗi số và ký hiệu có 4 lá bài được phân biệt bằng “cơ, rô, chuồn, bích”. Bốn người được chia làm bốn tụ, ban đầu mỗi người được chia 9 lá bài, riêng người chia bài có 10 lá và được đánh trước, những lá bài còn lại được đặt ở giữa gọi là “bài bốc”. Người thứ nhất đánh 01 lá bài cho người thứ hai theo chiều kim đồng hồ hoặc ngược chiều kim đồng hồ thì do người đánh tự quy định. Nếu người thứ hai ăn được lá bài của người thứ nhất để tạo “phỏm” thì không phải bốc “bài bốc” mà đánh cho người thứ ba 01 lá bài “rác” của mình. Nếu người thứ hai không thể ăn hoặc không muốn ăn lá bài người thứ nhất đánh thì phải bốc một lá ở “bài bốc” rồi đánh 01 lá bài “rác” cho người thứ ba. Tương tự như vậy đánh xoay vòng cho đến khi có 01 người chơi “ù” (có 03 “phỏm” và còn 01 lá bài “rác” để đánh cho người kế tiếp) thì ván bài sẽ kết thúc. Nếu không có người chơi nào “Ù” thì ván bài kết thúc sau 04 vòng đánh. Tại vòng 04 (vòng cuối), người chơi phải lật những “phỏm” đã có cho những người chơi khác biết (hạ phỏm) và đánh đi 01 lá bài cho người kế tiếp. Lá bài được đánh đi tại vòng 04 gọi là “Chốt hạ”. Cứ như vậy cho đến khi tất cả “hạ phỏm” và “bài bốc” được bốc hết. Nếu kết thúc 04 vòng đánh mà người chơi không có “phỏm” thì bị “cháy”.

“Phỏm”: là 03 lá bài cùng một số (ví dụ: 03 lá bài Q hoặc K) hoặc 03 lá bài liền kề nhau cùng một nước (cơ, rô, chuồn, bích).

Trong quá trình đánh, nếu để người khác ăn lá bài được đánh ra thì người đó phải trả cho người ăn lá bài đó số tiền 50.000 đồng. Kết thúc vòng 04, khi “hạ phỏm” thì những lá bài “rác” còn lại không tạo thành “phỏm” của người chơi được cộng lại tính điểm, nếu ai ít điểm nhất thì thắng, ba người còn lại thua nhì, thua ba và thua chót (tính theo số điểm từ nhỏ đến lớn). Trong đó: Cách tính điểm các lá bài đánh số thứ tự từ 02 đến 10 tương ứng từ 02 đến 10 điểm, còn các lá bài đánh ký hiệu A, J, Q, K thì tính điểm theo thứ tự là 01, 11, 12, 13 điểm. Người thua nhì phải trả số tiền 50.000 đồng, người thua ba phải trả số tiền 100.000 đồng và người thua chót phải trả số tiền 150.000 đồng cho người thắng nhất. Nếu kết thúc 04 vòng đánh mà bị “cháy” thì người bị “cháy” coi như bị thua chót và phải trả số tiền 200.000 đồng cho người thắng nhất. Trường hợp có một người chơi “Ù” thì ba người còn lại, mỗi người phải trả số tiền 250.000 đồng cho người có bài “Ù”.

Quá trình điều tra đã xác định số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc như sau:

Hoàng Thị T4 sử dụng số tiền 1.700.000 đồng, thắng được số tiền 1.700.000 đồng, thu giữ 3.400.000 đồng và số tiền 150.000 đồng để trong ly thủy tinh trước nơi T4 ngồi; Bùi Như T5 sử dụng số tiền 2.950.000 đồng, thắng được số tiền 500.000 đồng thu giữ 3.450.000 đồng; Nguyễn Viết T3 sử dụng 950.000 đồng, thua 50.000 đồng thu giữ 900.000 đồng; Nguyễn Viết N2 sử dụng 3.000.000 đồng, thua 1.800.000 đồng, thu giữ 1.200.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 9.100.000 đồng.

Về vật chứng:

Thu giữ 01 chiếu cói màu xanh, đỏ, vàng; 02 bộ bài tây 52 lá; 01 ly thủy tinh màu trắng; số tiền 9.100.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, màu hồng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đỏ, biển số 93B1- 424.92, số máy: E32VE712099 của Bùi Như T5; 01 Điện thoại di động hiệu S A22, màu tím và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave RS, màu đen, biển số 47B1-229.13, số máy: JC43E6283678 của Nguyễn Viết T3; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng gold và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu cam-xanh, biển số 61L3-6744, số máy: HC09E6664733 của Nguyễn Viết N2.

Bản cáo trạng số: 53/Ctr-VKS ngày 10/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố các bị cáo Hoàng Thị T4, Bùi Như T5, Nguyễn Viết N2 và Nguyễn Viết T3 bị truy tố về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Thị T4, Bùi Như T5, Nguyễn Viết N2 và Nguyễn Viết T3 phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: - Điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Viết T3 mức án từ 06 đến 09 tháng tù.

- Điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 58, 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị Nguyễn Viết N2 từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng; Hoàng Thị T4 từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng; Bùi Như T5 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng;

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Lời nói sau cùng của các bị cáo tại phiên tòa: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo nhận thức hành vi đánh bạc của mình là vi phạm pháp luật và rất ăn năn hối hận. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi công khai tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp về thời gian, địa điểm, cách thức thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, đồng thời phù hợp với những tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ, ngày 27/12/2024, tại nhà của Hoàng Thị T4, thuộc khu phố T, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước: Bùi Như T5, Nguyễn Viết T3, Hoàng Thị T4 và Nguyễn Viết N2 cùng tham gia đánh bạc, thắng thua bằng tiền, hình thức bài phỏm, với tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 9.100.000 đồng. Do đó, Cáo trạng số 53/Ctr-VKS ngày 10/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Hoàng Thị T4, Bùi Như T5, Nguyễn Viết N2 và Nguyễn Viết T3 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3]. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn công cộng tại địa phương. Ngoài ra, hành vi đánh bạc trái phép còn là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vì tư lợi cá nhân nên vẫn thực hiện hành vi phạm tội của mình.

[4]. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần phân tích vai trò của các bị cáo trong vụ án để quyết định hình phạt cho phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo.

[4.1]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Viết T3 có một tiền án về hành vi “Đánh bạc” nên bị áp dụng tình tiết “tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Các bị cáo Hoàng Thị T4, Bùi Như T5, Nguyễn Viết N2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Hoàng Thị T4, Bùi Như T5: Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo là lao động chính của gia đình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Bị cáo Nguyễn Viết N2, Nguyễn Viết T3: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Từ những phân tích trên cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

[5]. Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định. Xét thấy các bị cáo không có chức vụ, quyền hạn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6]. Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 chiếu cói màu xanh, đỏ, vàng; 02 bộ bài tây 52 lá; 01 ly thủy tinh màu trắng liên quan để phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ;

Đối với số tiền 9.100.000 đồng sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước;

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, màu hồng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đỏ, biển số 93B1-424.92, số máy: E32VE712099 của Bùi Như T5; 01 Điện thoại di động hiệu S A22, màu tím và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave RS, màu đen, biển số 47B1-229.13, số máy: JC43E6283678 của Nguyễn Viết T3; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng gold và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu cam-xanh, biển số 61L3-6744, số máy: HC09E6664733 của Nguyễn Viết N2. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại cho các bị cáo. Tuy nhiên quá trình xét xử tại phiên toà, các bị cáo khai nhận sử dụng điện thoại liên lạc với nhau để đánh bạc nên cần truy thu sung ngân sách Nhà nước. Đối với các xe mô tô đã trả lại là phù hợp nên HĐXX không xem xét.

[7]. Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Hoàng Thị T4, Bùi Như T5, Nguyễn Viết N2 và Nguyễn Viết T3 phạm tội “Đánh bạc”.

  2. Điều luật áp dụng và hình phạt:

    2.1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết T3 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành án tính từ ngày bắt chấp hành án được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 27/12/2024 đến ngày 31/12/2024.

    2.2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, 38, 58, 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    - Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết N2 số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).

    2.3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, 38, 58, 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    - Xử phạt bị cáo Hoàng Thị T4 số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).

    - Xử phạt bị cáo Bùi Như T5 số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

  3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 9.100.000 đồng.

    Truy thu 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, màu hồng của Bùi Như T5; 01 Điện thoại di động hiệu S A22, màu tím của Nguyễn Viết T3; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng gold của Nguyễn Viết N2.

    Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếu cói màu xanh, đỏ, vàng; 02 bộ bài tây 52 lá và 01 ly thủy tinh màu trắng.

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Hoàng Thị T4, Bùi Như T5, Nguyễn Viết N2 và Nguyễn Viết T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND thị xã Chơn Thành;
  • - CCTHADS thị xã Chơn Thành;
  • - CA thị xã Chơn Thành;
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Minh Sơn - Lương Thị Thu An

Võ Văn Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HS-ST ngày 04/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 46/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị T và đồng phạm Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger