|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2025/HS-ST Ngày: 03-04-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trực và bà Đoàn Thị Thanh Nhàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa tham gia phiên tòa:
Ông Hồ Vũ Phong và ông Trương Văn Thống, Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2025/TLST-HS ngày 22/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST-HS ngày 21/03/2025, đối với bị cáo:
- Nguyễn Hữu P (tên gọi khác: P1), sinh ngày 16/10/2000, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Số B T, phường P, quận T, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha: Nguyễn Hữu X, sinh năm 1964; mẹ: Võ Thị V, sinh năm 1967; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2; vợ, con: chưa có;
Tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự (Ngày 27/11/2022, bị Công an thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính số tiền 2.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo QĐ số 0000999);
Về nhân thân: Ngày 23/7/2015, bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản” (QĐ số 001825); ngày 19/10/2015, bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản” (QĐ số 029886);
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 17/10/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Em Nguyễn Thị Kiều N, sinh ngày 10/01/2007; nơi cư trú: Thôn L, phường L, quận P, thành phố H. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số A T, phường T, quận P, thành phố H. Vắng mặt.
+ Bà Võ Thị V, sinh năm 1967; nơi cư trú: Số B T, phường P, quận T, thành phố H. Có mặt.
- Người làm chứng: Em Lê Thị Tường V1, sinh ngày 24/8/2007; nơi cư trú: Thôn L, phường L, quận P, thành phố H. Vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp của người làm chứng Lê Thị Tường V1: Bà Nguyễn Thị C; sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn L, phường L, quận P, thành phố H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 16/10/2024, Nguyễn Hữu P đi xe mô tô BKS 75B1- 279.18 đi mua nước uống trên đường về nhà. Khi đi ngang công viên K ở đường H, thành phố H thì thấy em Lê Thị Tường V1 đi xe máy chở em Nguyễn Thị Kiều N, cùng trú tại: L, xã H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thôn L, phường L, quận P, thành phố H), P phát hiện sau lưng N có đeo một ba lô, bên phải ba lô có 1 túi nhỏ có chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro nên nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại, P điều khiển xe bám theo sau xe máy em N. Khi đến gần khu vực đèn tín hiệu giao thông ngã 6 đường L - Hà Nội thuộc phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay phường P, quận T, thành phố H), P điều khiển xe mô tô 75B1-279.18 áp sát xe máy em N, dùng tay trái giật lấy điện thoại di động của em N rồi điều khiển xe chạy thoát, đến đường L, phường P, P tháo ốp điện thoại vứt bỏ rồi đem điện thoại đến tiệm Đ1, địa chỉ: Số D T, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường P, quận T, thành phố H) bán cho anh Nguyễn Văn Q với số tiền 1.200.000 đồng, số tiền này P đã tiêu xài cá nhân.
Trong vụ án này, đối với Nguyễn Văn Q có hành vi mua chiếc điện thoại Iphone 12 Pro do bị cáo đem bán nhưng khi mua hoàn toàn không biết là tài sản do bị cáo cướp giật mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý.
* Vật chứng tạm giữ và xử lý vật chứng:
- 01 Điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, màu đen, dung lượng 128Gb, số I: 350905824449785. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu Nguyễn Thị Kiều N.
- 01 Xe mô tô nhãn hiệu honda Wave RXX, màu sơn đỏ, đen, BKS 75B1- 279.18, số máy: HC12E-2041587, số khung: RLHHC12378Y324793. Bà Võ Thị V khai xe này mua lại đã lâu của một người không rõ họ tên, địa chỉ, không viết giấy tờ mua bán. Qua xác minh thông tin dữ liệu đăng ký xe xác định xe này đăng ký biển số 55P2-2477, ngày đăng ký 20/8/2008, chủ xe: Lê Công Đ, trú tại: I Đ, phường P, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; qua làm việc anh Lê Công Đ trình bày không có đăng ký và sử dụng xe mô tô này.
Tại bản Kết luận định giá số: 5847/KL-HĐĐGTS ngày 17/10/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H, kết luận: Tại thời điểm ngày 16/10/2024, điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, màu đen, dung lượng 128Gb, mặt lưng bị rạn nứt, số Imei: 350905824449785, đã qua sử dụng, trị giá là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
* Trách nhiệm bồi thường dân sự:
Bị hại em Nguyễn Thị Kiều N đã nhận điện thoại, không yêu cầu gì; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Nguyễn Văn Q đã nhận lại số tiền mua điện thoại 1.200.000 đồng do bị cáo hoàn trả.
Tại bản cáo trạng số 41/CT-VKSTPH ngày 21 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa truy tố Nguyễn Hữu P về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu P phạm tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu P từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù.
- - Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu honda Wave RXX, màu sơn đỏ, đen, BKS 75B1-279.18, số máy: HC12E-2041587, số khung: RLHHC12378Y324793, do chưa xác định được chủ sỡ hữu nên đề nghị tiếp tục tạm giữ để điều tra, làm rõ mới có cơ sở xử lý.
- - Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- - Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, Điều tra viên, Kiểm sát viên khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu P đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình, lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 16/10/2024, tại khu vực gần ngã 6 đường L - Hà Nội thuộc phường P, thành phố H (nay phường P, quận T, thành phố H), Nguyễn Hữu P có hành vi đi xe mô tô áp sát xe máy của em Lê Thị Tường V1 đang chở em Nguyễn Thị Kiều N và cướp giật chiếc điện thoại di động của em N rồi nhanh chóng điều khiển xe chạy thoát; trị giá chiếc điện thoại mà Nguyễn Hữu P chiếm đoạt là 5.000.000đồng. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát Nhân dân quận Thuận Hóa truy tố bị cáo Nguyễn Hữu P là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiềm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; cha mẹ của bị cáo tự nguyện hoàn trả số tiền 1.200.000đ cho anh Nguyễn Văn Q nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản; đang có 01 tiền sự, bị xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Trộm cắp tài sản nhưng đến nay vẫn chưa nộp phạt.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại là em Nguyễn Thị Kiều N. Bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản nhưng vẫn không lấy đó làm bài học để rèn luyện, sửa chữa lỗi lầm mà tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật kém. Hành vi của bị cáo thực hiện vào ban ngày, trên tuyến đường giao thông huyết mạch, có đông người qua lại, điều đó chứng tỏ sự liều lĩnh của bị cáo; đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo Nguyễn Hữu P ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Nguyễn Văn Q đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 Điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, màu đen, dung lượng 128Gb, số I: 350905824449785. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu Nguyễn Thị Kiều N nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với 01 Xe mô tô nhãn hiệu honda Wave RXX, màu sơn đỏ, đen, BKS 75B1- 27918, số máy: HC12E-2041587, số khung: RLHHC12378Y324793, do chưa xác định được chủ sở hữu nên cần tiếp tục tạm giữ để điều tra, làm rõ mới có cơ sở xử lý
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu P phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự,
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu P 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 17/10/2024.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tiếp tục tạm giữ để điều tra, làm rõ chủ sở hữu đối với: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu honda Wave RXX, màu sơn đỏ, đen, BKS 75B1- 279.18, số máy: HC12E-2041587, số khung: RLHHC12378Y324793, đã qua sử dụng.
(Vật chứng trên có tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thuận Hóa, có đặc điểm được xác định theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 24/01/2025).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Nguyễn Hữu P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hiếu |
Bản án số 46/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ về cướp giật tài sản
- Số bản án: 46/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 03 năm tù.
