|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2025/HNGĐ-ST Ngày 28/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn;
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Hiệp và bà Ngô Thị Hoa.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Hứa Ngọc Ánh, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên: Bà Nguyễn Thị Thu Nhung – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 725/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024, về “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 764/2024/QĐXX ngày 17/12/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Nguyễn Quang H, sinh năm 1999 (có mặt);
Địa chỉ: Tổ E, phường T, TP T, tỉnh Thái Nguyên.
* Bị đơn: Chị Dương Thị H1, sinh năm 1999 (vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ E, phường T, TP T, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên toà, nguyên đơn anh Nguyễn Quang H trình bày: Anh và chị Dương Thị H1 kết hôn năm 2022, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 3 năm 2024, phát sinh mâu thuẫn, cãi vã lẫn nhau, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, chị H1 thường xuyên vắng nhà, không quan tâm đến gia đình. Anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đề nghị được ly hôn với chị H1.
Về con chung: Anh H xác định vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Anh H xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đến nơi cư trú của chị H1 để lấy lời khai và tống đạt các văn bản tố tụng nhưng chị H1 không có mặt tại nơi cư trú. Tòa án tiến hành làm việc với bà Trần Thị Đ là mẹ đẻ của anh H, cùng cư trú với anh H và chị H1. Bà Đ cho biết anh H kết hôn với chị H1 năm 2022, sau khi kết hôn chung sống cùng gia đình bà, quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, không hòa thuận, chị H1 đi làm thỉnh thoảng mới về nhà. Tòa án đã niêm yết, tống đạt các văn bản tố tụng và nhiều lần tổ chức hòa giải nhưng chị H1 vắng mặt tất cả các phiên hòa giải, không có ý kiến gì. Vì vậy, Toà án không tiến hành hoà giải được và phải đưa vụ án ra xét xử.
Trong phần tranh tụng: Anh H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị được ly hôn với chị H1. Về con chung, tài sản chung và các khoản nợ chung: Anh H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 21; Điều 262 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định về thẩm quyền của mình theo Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự; tuân thủ đúng quy định về trình tự, tố tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Nguyễn Quang H được ly hôn với chị Dương Thị H1. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, do đương sự xác định không có, không yêu cầu giải quyết. Về án phí: Buộc anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1.] Về tố tụng:
[1.1] Thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn, xác định đây là vụ kiện về “Ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Cả nguyên đơn và bị đơn đều có nơi cư trú tại thành phố T, vì vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên theo quy định tại các Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ, nên việc xét xử có sự tham gia của Kiểm sát viên theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Chị H1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt chị H1.
[2] Về nội dung vụ án: Anh Nguyễn Quang H và chị Dương Thị H1 kết hôn năm 2022, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, đây được coi là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, anh H trình bày sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, chị H1 thường xuyên vắng nhà không quan tâm đến gia đình, vợ chồng ly thân từ năm 2024 đến nay. Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự quay về đoàn tụ gia đình nhưng anh H kiên quyết xin ly hôn, chị H1 biết anh H khởi kiện ly hôn, không có ý kiến phản đối gì, không đến tham gia các phiên hòa giải và phiên tòa. Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho anh Nguyễn Quang H được ly hôn với chị Dương Thị H1 là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Anh H xác định, anh và chị H1 không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Anh H xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Anh Nguyễn Quang H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 và Điều 482 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Quang H.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Quang H được ly hôn chị Dương Thị H1.
- Về con chung: Đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Anh Nguyễn Quang H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nộp ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000585 ngày 17/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
- Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Quang H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Chị Dương Thị H1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh Nhàn |
Bản án số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 28/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn
- Số bản án: 46/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
