Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAI LẬY

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 46/2025/HNGĐ-ST

Ngày 28/02/2025

V/v “Tranh chấp ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Nhanh.

- Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Tư;
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy.

Trong ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cai Lậy mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 630/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Trúc Q, sinh năm 2000, (có đơn xin vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Anh Hồ Bảo Q1, sinh năm 1991, (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ghi ngày 05/12/2024, trong quá trình giải quyết vụ án chị Trần Thị Trúc Q trình bày:

Chị và anh Hồ Bảo Q1 xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2023, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2024 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nên thường xuyên xảy ra cự cải nhau làm cho cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc. Chị và anh Q1 đã sống ly thân nhau từ đầu năm 2024 đến nay không hàn gắn được tình cảm. Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

  • Về quan hệ hôn nhân: Chị yêu cầu ly hôn với anh Hồ Bảo Q1.
  • Về con chung: Không có.
  • Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Q xác định đã nhận lại từ gia đình anh Hồ Bảo Q1 số vàng cưới là 05 chỉ vàng 24 Kara nên về tài sản chung giữa chị Q và anh Q1 đã tự thỏa thuận giải quyết xong. Do đó, vào ngày 16/01/2025, chị Trần Thị Trúc Q có đơn xin rút lại yêu cầu chia ½ số vàng cưới.
  • Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do bận công việc không thể tham gia phiên tòa nên chị Q có đơn xin được vắng mặt trong quá trình xét xử.

* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn, đơn khởi kiện, bản tự khai, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Q1 vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Q.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Q có đơn yêu cầu ly hôn với anh Q1, bị đơn anh Q1 cư trú tại ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, anh Q1 vắng mặt lần thứ 2 mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ; đồng thời chị Q có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Quá trình giải quyết vụ án, chị Q thay đổi yêu cầu khởi kiện, xin rút lại yêu cầu chia tài sản chung là số vàng cưới. Xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu. Căn cứ khoản 1 Điều 5, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Trúc Q đối với yêu cầu chia số vàng cưới là 10 chỉ vàng 24 Kara. Đồng thời, do chị Q rút lại yêu cầu chia tài sản chung có liên quan đến bà Trần Thị H nên Hội đồng xét xử không đưa bà H vào tham gia tố tụng trong vụ án.

[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Q là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận, bởi lẽ:

3.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Q và anh Q1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 99 vào ngày 04/12/2023, được xem là hôn nhân hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của chị Q thì sau khi kết hôn, chị và anh Q1 chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, sau đó anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã nhau và sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay vẫn không hàn gắn được tình cảm. Anh chị không còn liên lạc và quan tâm cuộc sống của nhau nữa, chứng tỏ giữa chị Q và anh Q1 đã không còn tình cảm vợ chồng, việc kéo dài hôn nhân sẽ không mang lại hạnh phúc cho cả hai.

Theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau.....”. Do đó, việc chị Q và anh Q1 thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn với nhau, sống ly thân trong thời gian dài, cho thấy hôn nhân giữa hai người đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.

Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh Q1, mở phiên hòa giải để hàn gắn mâu thuẫn cho các bên nhưng anh Q1 vắng mặt không lý do và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình về việc ly hôn, từ đó cho thấy anh Q1 không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị Q. Do đó, chị Q yêu cầu xin ly hôn với anh Q1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3.2. Về con chung: Chị Q khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3.3. Về tài sản chung: Chị Q xác định đã thỏa thuận xong nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3.4. Về nợ chung: Chị Q khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Q phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 1 Điều 5, khoản 2 Điều 244, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Trúc Q về việc yêu cầu chia tài sản chung với số vàng cưới là 10 chỉ vàng 24 Kara.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Trúc Q.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Trúc Q được ly hôn với anh Hồ Bảo Q1.
    2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. Về án phí: Chị Trần Thị Trúc Q phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002745 ngày 10/12/2024 và biên lai số 0002746 ngày 10/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nên hoàn lại cho chị Trần Thị Trúc Q số tiền là 1.000.000 đồng.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Cai Lậy;
  • - Chi cục THADS huyện Cai Lậy;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Mỹ Nhanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 46/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Trúc Q về việc yêu cầu chia tài sản chung với số vàng cưới là 10 chỉ vàng 24 Kara. 2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Trúc Q. 2.1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Trúc Q được ly hôn với anh Hồ Bảo Q1.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger