|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26-5-2025
V/v: “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên
Ông Lê Khắc Hiệp
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khánh Nguyên – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Tú – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2025/TLST – HN ngày 07 tháng 01 năm 2025 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1992. Nơi cư trú: số A ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre. (Xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Lê Quốc B, sinh năm 1988. Địa chỉ: số A ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt không có lí do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu T trình bày:
Vào năm 2011 tôi và Anh B có quen biết rồi tiến tới hôn nhân, chúng tôi đi đăng ký kết hôn tại UBND xã A vào ngày 04/4/2011. Trong cuộc sống hôn nhân anh B có đam mê cờ bạc, tôi nhiều lần khuyên nhũ không được nên giữa tôi và B thường xuyên xải ra mâu thuẫn trong cuộc sống, gia đình hai bên không hòa giải mà còn xảy ra mâu thuẫn nên xui gia hai bên có cự cãi do anh B nói xấu gia đình tôi. Sau đó, từ năm 2024 tôi bỏ về nhà mẹ ruột tôi sinh sống cho đến nay. Hiện nay tình cảm vợ chồng còn, vợ chồng đã sống ly thân nên tôi yêu cầu ly hôn anh B. Về con chung: Tôi đồng ý giao con chung tên Lê Hoài H, sinh ngày 04/11/2009 cho anh B nuôi dưỡng, tôi yêu cầu được nuôi chung Lê Hoài D, sinh ngày 17/9/2018, không ai cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không có tài sản chung, nên không yêu cầu giải quyết và nợ chung không có nợ chung nên tôi không yêu cầu giải quyết. Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng tôi không yêu cầu.
Trong quá trình tố tụng bị đơn anh Lê Quốc B có lời trình bày:
Tôi đồng ý với lời trình bày của vợ tôi về điều kiện thành hôn, thời gian kết hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung. Tuy nhiên, tôi không đồng ý ly hôn. Tôi thừa nhận cuộc sống hôn nhân tôi và vợ tôi có mâu thuẫn, nên đã sống ly thân, gia đình 02 bên có xảy ra cự cãi. Nhưng bản thân tôi lúc nào cũng mong muốn hòa giải nên muốn vợ chồng hàn gắn, tôi còn thương vợ tôi rất nhiều. Nếu vợ tôi cương quyết ly hôn thì tôi có ý kiến về con chung: Tôi yêu cầu nuôi cháu Lê Hoài H, sinh ngày 04/11/2009 và đồng ý giao cháu Lê Hoài D, sinh ngày 17/9/2018 cho vợ tôi nuôi dưỡng, không ai cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không có tài sản chung, nên không yêu cầu giải quyết và nợ chung không có nợ chung nên tôi không yêu cầu giải quyết. Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng tôi không yêu cầu
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên Tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị:
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu T. Chị Nguyễn Thị Thu T được ly hôn với anh Lê Quốc B..
Về con chung: Chị T được trực tiếp nuôi con chung cháu Lê Hoài D, sinh ngày 17/9/2018 (theo nguyện vọng của cháu D). Anh B được trực tiếp nuôi con chung cháu Lê Hoài H, sinh ngày 04/11/2009 (theo nguyện vọng của cháu H). Anh B và chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do không ai có yêu cầu.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Căn cứ vào đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu T yêu cầu xin ly hôn với anh Lê Quốc B nên căn cứ vào điều 51 Luật hôn nhân gia đình xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn”.
[2] Anh Lê Quốc B hiện đang cư trú tại xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
[3] Xét việc anh Lê Quốc B vắng mặt tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy: Anh Lê Quốc B đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng anh B vẫn không có mặt. Việc vắng mặt không rõ lý do, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh B theo quy định Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T theo qui định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về hôn nhân: Xét về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn thấy rằng chị T và anh B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã A được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 04/4/2011. Do đó hôn nhân của anh, chị đã tuân thủ đầy đủ các quy định về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Xét lời trình bày của chị T cho rằng anh B có đam mê cờ bạc, chị nhiều lần khuyên nhũ không được nên giữa chị và B thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trong cuộc sống, gia đình hai bên không hòa giải mà còn xảy ra mâu thuẫn nên xui gia hai bên có cự cãi do anh B nói xấu gia đình chị. Sau đó, từ năm 2024 chị bỏ về nhà mẹ ruột chị sinh sống cho đến nay. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng đã sống ly thân nên chị yêu cầu ly hôn anh B.
Đối với anh Lê Quốc B thì anh không đồng ý ly hôn mong muốn vợ chồng hàn gắn nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham dự các phiên tòa xét xử nhưng anh không đến. Theo bản tư khai ngày 09/4/2025 anh B thừa nhận anh và chị T có mâu thuẫn trong cuộc sống nên gia đình hai bên có cự cãi và hiện tại vợ chồng đã sống ly thân. Đồng thời, cùng với kết quả xác minh về tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh B cho thấy nội dung mà chị T đã trình bày về tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh B là có căn cứ chấp nhận. Từ đó cho thấy mâu thuẫn của vợ chồng chị T và anh B đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T là phù hợp.
[5] Về con chung: Cháu Lê Hoài D, sinh ngày 17/9/2018 hiện đang sống cùng chị T và nếu vợ chồng ly hôn chị T có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu D. Cháu Lê Hoài H, sinh ngày 04/11/2009 hiện đang sống cùng anh B và nếu vợ chồng ly hôn anh B có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H. Xét thấy chị T và anh B đều có đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dạy các con chung để con chung phát triển tốt về thể chất, tinh thần và con chung cháu D có nguyện vọng sống cùng chị T, cháu H có nguyện vọng sống cùng anh B. Vì vậy giao con chung Lê Hoài D, sinh ngày 17/9/2018 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng và Lê Hoài H, sinh ngày 04/11/2009 cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Đồng thời, ghi nhận việc chị T và anh B không cấp dưỡng nuôi con chung do chị T và anh B không yêu cầu.
[6] Về tài sản chung: Chị T và anh B cùng trình bày không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về nợ chung: Chị T và anh B cùng trình bày không có nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Chị T phải nộp án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[9] Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, 147, và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu T. Chị T được ly hôn với anh Lê Quốc B.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thu T được trực tiếp nuôi con chung cháu Lê Hoài D, sinh ngày 17/9/2018 (theo nguyện vọng của cháu D). Anh Lê Quốc B được trực tiếp nuôi con chung cháu Lê Hoài H, sinh ngày 04/11/2009 (theo nguyện vọng của cháu H). Ghi nhận việc chị T và anh B không cấp dưỡng nuôi con chung do chị T và anh B không yêu cầu.
- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thu T và anh Lê Quốc B cùng trình bày không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét
- Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thu T và anh Lê Quốc B cùng trình bày không có nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Nguyễn Thị Thu T phải nộp số tiền là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008615 ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
- Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.
Chị T và anh B không yêu cầu nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Vì lợi ích con chung chưa thành niên, theo yêu cầu của chị T và anh B có thể yêu cầu Tòa án thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Hồng Thúy |
5
Bản án số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE về ly hôn
- Số bản án: 46/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Nguyễn Thị Thu Thảo yêu cầu xin ly hôn với anh Lê Quốc Bắc
