Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25 - 3 - 2025

V/v “Tranh chấp hôn nhân gia đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trường D

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị V

Bà Nguyễn Thị Mai H

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị H, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá, tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị X - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 173/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2025/QĐ-ST ngày 28/2/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị T – sinh năm 1991

Địa chỉ: Thôn C xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

- Bị đơn: Anh Phạm Văn C, sinh năm 1983

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn A xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.

Tại phiên toà, vắng mặt chị T có lý do (Có đơn xin xét xử vắng mặt), vắng mặt anh C không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 19/9/2024, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Lê Thị T trình bày:

  1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh Phạm Văn C quen biết nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và đã đăng ký kết hôn ngày 02/8/2010 tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống thuận hòa, hạnh phúc đến năm 2020 thì anh T đi xuất khẩu lao động sang Đài Loan . Sau khi anh T đi vợ chồng ngày càng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do việc vợ chồng xa cách nhau lâu ngày nên bất đồng quan điểm sống, không còn sự tin tưởng và chia sẻ với nhau. Anh C và chị T ngày càng ít liên lạc với nhau hơn. Đến năm 2022 thì chị T về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống, để con lại cho mẹ đẻ của anh C (bà nội các con chị) nuôi dưỡng. Từ đó đến nay giữa hai anh chị gần như không thể có tiếng nói chung nên khoảng 3-4 năm trở lại đây không còn liên lạc hay hỏi han chăm sóc gì tới nhau nữa. Vào khoảng tháng 09/2023 anh C có về Việt Nam một lần nhưng anh chị cũng không về ở cùng nhau. Đến nay chị T nhận thấy vợ chồng chị không còn tình cảm với nhau, có tiếp tục chung sống cũng không thể có hạnh phúc. Do đó, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Văn C.
  2. Về con chung: Anh chị có 03 con chung là cháu Phạm Thị Thanh T1, sinh ngày 07/8/2010, cháu Phạm Văn Bảo N, sinh ngày 26/01/2013 và cháu Phạm Văn Huy H, sinh ngày 05/01/2015. Vì chị T hiện không có việc làm và nơi ở ổn định, thu nhập không ổn định cho cuộc sống nên chưa thể đảm bảo được cuộc sống sinh hoạt và học tập cho các con. Nên nếu ly hôn, nguyện vọng của chị là để con cho mẹ anh C, bà nội các cháu nuôi dưỡng như 03 năm nay, chị sẽ cố gắng kiếm thêm thu nhập để gửi về thêm cho bà nuôi các cháu.
  3. Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Chị T trình bày không biết địa chỉ cụ thể của anh Phạm Văn C tại Đài Loan nên không thể cung cấp cho Tòa án. Anh C vẫn thường xuyên liên lạc với mẹ đẻ của anh là bà Lê Thị L, thường trú tại Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa . Đề nghị Tòa án tiến hành thu thập thêm thông tin từ mẹ anh C.

Tại biên bản xác minh đối với bà Lê Thị L - mẹ đẻ của anh Phạm Văn C trình bày:

Anh Phạm Văn C là con trai và chị Lê Thị T là con dâu bà. Anh chị quen biết nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa vào năm 2010. Sau khi cưới vợ chồng anh C chị T chung sống hoà thuận hạnh phúc và sinh được ba con là cháu Thanh T1, Bảo N và Huy H. Đến năm 2020 anh C vì muốn cải thiện kinh tế gia đình nên đi xuất khẩu lao động sang Đài Loan. Sau khi anh C đi bà cũng không rõ vợ chồng anh chị có mâu thuẫn gì với nhau hay không nhưng đến năm 2022 chị T tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ để ở mà không có thông báo gì với gia đình nhà chồng và để lại ba đứa con cho bà chăm sóc nuôi dưỡng. Từ năm 2022 cho đến nay, chị T không hề có lần nào quay về nhà thăm nom hay gửi tiền gì cho các con để cho bà nuôi các cháu ăn học. Ba năm chị T bỏ đi, tiền sinh hoạt, ăn uống và học hành của cả ba cháu đều do anh C bên Đài Loan đều đặn gửi về cho bà hàng tháng từ 5 đến 7 triệu đồng cộng thêm tiền bà làm nông nghiệp kiếm thêm để trang trải.

Sau khi đi sang nước ngoài, anh C vẫn thường xuyên gọi điện về cho bà và các con để nói chuyện, bà biết anh C đang ở Đài Loan nhưng hoàn toàn không biết địa chỉ chính xác của anh hiện tại đang ở đâu.

Nay chị T có đơn xin ly hôn, việc tình cảm vợ chồng anh chị là việc riêng bà không có ý kiến gì. Tuy nhiên nếu anh C và chị T ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi cả ba cháu đến khi anh C trở về Việt Nam. Bà được biết, chị T làm lao động tự do thường xuyên nay đây mai đó không thể đảm bảo được cuộc sống ổn định cho các cháu học hành. Thêm nữa nhiều năm nay, chị T không về thăm các con nên tình cảm các cháu dành cho mẹ cùng không có nhiều, các cháu ở với bà được bà chăm sóc cũng đã quen nếu giao con cho chị T nuôi sẽ ảnh hưởng đến tâm lý của các cháu, ảnh hưởng đến việc học hành của các cháu.

Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá có giao cho bà 01 Thông báo về việc thụ lý vụ án và giấy triệu tập và đã giải thích toàn bộ quyền và nghĩa vụ của bà theo quy định của pháp luật. Bà L nhận và cam đoan sẽ thông báo lại cho anh C toàn bộ nội dung qua đường điện thoại.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ các Điều 56; 81; 82;83 Luật Hôn nhân gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị T, xử cho chị T được ly hôn anh Phạm Văn C. Giao 03 con chung là cháu Phạm Thị Thanh T1, sinh ngày 07/8/2010, cháu Phạm Văn Bảo N, sinh ngày 26/01/2013 và cháu Phạm Văn Huy H, sinh ngày 05/01/2015 cho anh Phạm Văn C nuôi dưỡng. Tạm giao cho bà Lê Thị L (mẹ đẻ của anh Phạm Văn C) trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung trong thời gian anh C không có mặt tại Việt Nam, chị T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Về thẩm quyền của Tòa án: Chị Lê Thị T là nguyên đơn đang cư trú tại tỉnh Thanh Hóa; bị đơn là anh Phạm Văn C có đăng ký hộ khẩu tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa nhưng hiện nay đang làm việc tại Đài Loan. Do trong vụ án có nguyên đơn cư trú tại tỉnh Thanh Hóa, bị đơn cư trú ở nước ngoài. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
    2. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn: Chị T chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh C ở Việt Nam nhưng không cung cấp được địa chỉ của anh C tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng cả chị T và bà Lê Thị L là mẹ đẻ của anh C đều trình bày không biết địa chỉ cụ thể của anh C ở Đài Loan. Tuy anh C vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng không cung cấp địa chỉ chính xác của anh hiện nay ở nước ngoài. Vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.
    3. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa nguyên đơn là chị Lê Thị T vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Phạm Văn C mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.
  2. Về nội dung:
    1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh Phạm Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp. Trong lời khai và các tài liệu gửi đến Tòa án, chị T đều trình bày sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian khoảng 6 đến 7 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Sau khi anh C đi lao động tại Đài Loan thì vợ chồng ngày càng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do sau khi anh C đi Đài Loan làm ăn thì vợ chồng xa cách nhau lâu ngày nên dẫn đến bất đồng quan điểm sống, không còn sự tin tưởng và chia sẻ với nhau. Anh C và chị T ngày càng ít liên lạc với nhau hơn. Đến năm 2022 thì chị T về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống, chị T để cả 03 con lại cho bà Lê Thị L là mẹ của anh C nuôi dưỡng. Từ đó đến nay anh chị không còn liên lạc hay hỏi han chăm sóc gì tới nhau. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng ly thân đã lâu, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị Lê Thị T được ly hôn anh Phạm Văn C.
    2. Về con chung: Anh chị có 03 con chung là cháu Phạm Thị Thanh T1, sinh ngày 07/8/2010, cháu Phạm Văn Bảo N, sinh ngày 26/01/2013 và cháu Phạm Văn Huy H, sinh ngày 05/01/2015. Từ năm 2022 chị T về nhà bố mẹ đẻ để ở, cả ba người con chung của chị T và anh C đều ở cùng mẹ đẻ của anh C là bà Lê Thị L. Từ đó đến nay chị T cũng không trở về lần nào để thăm nom, chăm sóc, không nuôi dưỡng con, không đóng góp nuôi dưỡng các con cho bà L, toàn bộ việc nuôi các cháu đều do bà Lê Thị L, hiện tại các cả 03 con của chị T, anh C đều phát triển bình thường, được đi học, đảm bảo điều kiện về sinh hoạt. Chị T cũng thừa nhận khi về ở với bố mẹ đẻ thì chị để lại cả 03 người con cho mẹ đẻ anh C là bà Lê Thị L nuôi dưỡng, do công việc làm và nơi ở của chị hiện tại không ổn định, nay làm nơi này, mai làm nơi khác, thu nhập không ổn định, không đảm bảo được cho cuộc sống, nên chưa thể có điều kiện để nuôi được con, nên chị có mong muốn để 03 con cho bà nội các cháu là Lê Thị L nuôi dưỡng để cuộc sống các cháu ổn định không bị thay đổi, xáo trộn. Xét thấy, chị T hiện tại không đủ điều kiện để đảm bảo nuôi ba con và thực tế chị đã để con cho bà Lê Thị L là mẹ để anh C, là bà nội các cháu nuôi nhiều năm nay mà không thăm nom hay cấp dưỡng gì, đồng thời vì điều kiện hiện tại khó khăn nên chị cũng mong muốn để các con sống với bà nội là Lê Thị L. Anh C hiện không có ở Việt Nam nhưng toàn bộ tiền sinh hoạt, học hành của các con đều do anh C gửi tiền về hàng tháng cho mẹ anh là bà Lê Thị L, điều đó thấy rằng mặc dù điều kiện làm việc ở xa nhà nhưng anh C vẫn thể hiện trách nhiệm của người cha đối với các con, ngoài ra bà Lê Thị L vẫn lao động làm nông nghiệp có thu nhập thêm để chi trả sinh hoạt chung cho cả bà và các cháu. Mặt khác, cả 03 con của anh C, chị T đều có nguyện vọng ở với bố và được bà nội chăm sóc, bà Lê Thị L là mẹ đẻ của anh C, là bà nội các cháu cũng thống nhất, tự nguyện sẽ trực tiếp nuôi cả ba cháu và không yêu cầu chị T cấp dưỡng. Để bảo đảm điều kiện tốt nhất hiện tại cho các con của chị T, anh C, tránh sự xáo trộn ảnh hưởng đến việc học hành và phát triển của các cháu, nên giao cháu Phạm Thị Thanh T1, cháu Phạm Văn Bảo N và cháu Phạm Văn Huy H cho anh C nuôi dưỡng. Trong thời gian anh C chưa về Việt Nam thì tạm giao bà Lê Thị L (mẹ đẻ anh C) là người trực tiếp nuôi cả ba cháu. Khi nào anh C về Việt Nam thì bà L giao các cháu T1, N, H lại cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
    3. Về tài sản, công nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xét. Anh C không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên sau này nếu anh C yêu cầu thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
  3. Về án phí: Chị T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp.
  4. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 4 Điều 147; Điều 273, Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị T.
    • - Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị T được ly hôn anh Phạm Văn C.
    • - Về con chung: Giao cháu Phạm Thị Thanh T1, sinh ngày 07/8/2010, cháu Phạm Văn Bảo N, sinh ngày 26/01/2013 và cháu Phạm Văn Huy H, sinh ngày 05/01/2015 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng có quyền thăm nom con, không ai được cản trở. Tạm giao cho bà Lê Thị L (mẹ đẻ của anh C) trực tiếp nuôi dưỡng ba con chung của anh chị trong thời gian anh C không có mặt tại Việt Nam. Khi nào anh C về Việt Nam thì bà L có trách nhiệm giao các cháu Phạm Thị Thanh T1, Phạm Văn Bảo N, Phạm Văn Huy H cho anh C nuôi dưỡng;
    • - Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo Biên lai thu số 0000569 ngày 08/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị T đã nộp đủ tiền án phí.
  3. Quyền kháng cáo: Chị Lê Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15( mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Phạm Văn C có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 01(một) tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (P9);
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã Hoằng Ngọc, H. Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hóa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA, Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Trường D

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 46/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger