Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24/3/2025

“V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Minh Thư

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể

Ông Nguyễn Đình Hoài

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thái Thành - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 210/2024/TLST - HNGĐ, ngày 07 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025 và quyết định hoãn phiên toà số 31/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị M, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn X, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1980; Nơi đăng ký thường trú: Thôn X, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, hiện đang lao động tại Hàn Quốc. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án chị Hoàng Thị M trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị M và anh Nguyễn Văn Đ đăng ký kết hôn ngày 28/5/2012 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Thời gian đầu kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc và yêu thương nhau. Cuối năm 2015, anh Đ đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc do xa cách nhau nên vợ chồng ít khi nói chuyện, quan tâm lẫn nhau. Năm 2016 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và khác biệt thói quen sinh hoạt, mặc dù vợ chồng đã cố gắng hòa giải để hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không tìm được tiếng nói chung. Năm 2021, chị M sang nước ngoài lao động, từ đây mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng, vợ chồng không liên lạc với nhau từ đó cho đến nay. Chị đã nhiều lần yêu cầu anh Đ cung cấp thông tin, địa chỉ làm việc ở nước ngoài nhưng anh Đ không cung cấp. Hiện tại, chị M xác định cuộc sống hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên là Nguyễn Hoàng Bảo A, sinh ngày 14/11/2012 và Nguyễn Hoàng Bảo T, sinh ngày 10/02/2015. Hiện hai con chung đang sống với chị M. Khi ly hôn, chị M có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 03/12/2024 của Tòa án, bà Bùi Thị D (mẹ đẻ anh Nguyễn Văn Đ) cho biết: Anh Đ, chị M kết hôn tự nguyện, vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau khi sinh con thì anh Đ đi xuất khẩu tại Hàn Quốc, từ đó đến nay không về nước. Vợ chồng anh Đ, chị M có mâu thuẫn, nhưng cụ thể thế nào bà D không biết. Việc chị M làm đơn ly hôn, Tòa án đang giải quyết vụ án thì anh Đ biết và anh Đ đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân Tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí, Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị M, xử: Cho chị Hoàng Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ; Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng Bảo A, sinh ngày 14/11/2012 và Nguyễn Hoàng Bảo T, sinh ngày 10/02/2015 cho chị Hoàng Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Anh Đ được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được phép cản trở. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên miễn xem xét; Về án phí: Buộc chị Hoàng Thị M phải chịu án phí giải quyết vụ án ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tại công văn số 1171/QLXNC-Đ1 ngày 19/11/2024 của phòng Q Công an tỉnh H về cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của anh Nguyễn Văn Đ đã xuất cảnh ngày 12/6/2012, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Theo thông tin người nhà anh Đ cho biết hiện tại anh Đ đang lao động tại Hàn Quốc. Tại thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn anh Đ đang ở nước ngoài, do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Theo Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định về áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã tiến hành xác minh quan hệ hôn nhân, địa chỉ của anh Nguyễn Văn Đ qua bà Bùi Thị D mẹ của anh Đ. Bà D cho biết hiện tại anh Đ lao động tại nước Hàn Quốc và thường xuyên liên lạc với gia đình, bà D không cung cấp địa chỉ cụ thể hiện tại của anh Đ ở nước ngoài. Tòa án gửi công văn đề nghị Ban Đ1 đăng thông tin cho anh Đ. Đ1 đã đăng thông tin cho anh Đ trong 3 ngày liên tiếp từ ngày 06 đến ngày 08/12/2024 nhưng anh Đ không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Chị M có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do đó, Toà án xét xử vắng mặt chị M và anh Đ theo quy định tại Điều 238, 477 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị M và anh Nguyễn Văn Đ đăng ký kết hôn ngày 28/5/2012 tại UBND xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Việc kết hôn có tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, tuân thủ quy định Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa chị A1 và anh H là hôn nhân hợp pháp. Chị M thừa nhận mẫu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, không còn tình cảm, từ năm 2021 đến nay vợ chồng không liên lạc, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, đồng thời không ai có biện pháp gì để hàn gắn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Theo bà D (mẹ anh Đ) cho biết hiện tại vợ chồng chị M, anh Đ có mâu thuẫn, chị M và hai con chung không chung sống với nhà chồng mà về ở nhà mẹ đẻ chị M tại huyện N, tỉnh Hà Tĩnh.

Xét thấy mục đích hôn nhân là xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, tiến bộ, vợ chồng phải tôn trọng, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nhưng cuộc hôn nhân giữa chị M và anh Đ không còn đạt được mục đích đó, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng. Vợ chồng sống mỗi người một nơi không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hoàng Thị M.

[2.2] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có hai con chung tên là Nguyễn Hoàng Bảo A, sinh ngày 14/11/2012 và Nguyễn Hoàng Bảo T, sinh ngày 10/02/2015, hiện đang sống với chị M. Khi ly hôn, chị Hoàng Thị M có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 2 con chung, không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xét thấy, từ khi anh Đ đi xuất khẩu lao động đến nay các con sống với chị M, được chị M chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Cháu Nguyễn Hoàng Bảo T, Nguyễn Hoàng Bảo A cũng có đơn trình bày nguyện vọng được sống với chị M. Hiện tại anh Đ không có mặt tại việt N. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao các con chung Nguyễn Hoàng Bảo T, Nguyễn Hoàng Bảo A cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định của pháp luật, với nguyện vọng của các con chung và điều kiện hoàn cảnh của mỗi bên. Anh Đ được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Do chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[2.4] Về án phí: Chị Hoàng Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39, 227, 228, 273, 464, 469, 479; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Hoàng Thị M. Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.
  2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng Bảo A, sinh ngày 14/11/2012 và Nguyễn Hoàng Bảo T, sinh ngày 10/02/2015 cho chị Hoàng Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  3. Về án phí: Buộc chị Hoàng Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000159 ngày 05/11/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND xã Cương Gián;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Bùi Minh Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 24/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 46/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Hoàng Thị Đ yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger