TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC L TỈNH BẠC L Bản án số: 46/2025/HNGĐ-ST Ngày: 23/5/2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Dinh |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC L, TỈNH BẠC L
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Công Bằng.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dư Thị Út và bà Lâm Thị Nguyệt Hồ.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Hồng Thị Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc L tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 55/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2025/QĐST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Lý Văn N, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số 1/377, ấp Công Điền, xã Vĩnh Trạch, thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L.
- - Bị đơn: Chị Quách Ngọc Y, sinh năm 1973. Địa chỉ: Số 1/377, ấp Công Điền, xã Vĩnh Trạch, thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L.
(Anh N, chị Y vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Lý Văn N trình bày: Anh N và chị Y tiến tới hôn nhân vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Trạch, thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L. Trong quá trình chung sống vợ chồng lúc đầu hạnh phúc nhưng thời gian sau thì vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẩn do vợ chồng không có tiếng nói chung trong gia đình, khi chung sống thì mỗi người một quan điểm sống, không ai biết lắng nghe và chia sẽ công việc hằng ngày với nhau, từ đó làm cho cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên từ năm 2019 chị Y đã về nhà mẹ ruột sinh sống và vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay. Nay anh xác định vợ chồng không thể sống chung được, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không thể kéo dài nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Quách Ngọc Y.
Về con chung: Quá trình chung sống anh và chị Y có 02 con chung là cháu Lý Bảo Nghi, sinh ngày 17/12/2007 và cháu Lý Bảo K, sinh ngày 08/9/2014, hiện tại cháu đang sống cùng chị Y, khi ly hôn anh N đồng ý giao hai cháu cho chị Y được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và anh không cấp dưỡng nuôi con do chị Y không yêu cầu.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Y nhưng chị Y đều vắng mặt và không có bất cứ ý kiến phản hồi gì đối với yêu cầu xin ly hôn của anh N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc L phát biểu quan điểm:
- - Về tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- - Về nội dung: Anh N và chị Y chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, đây là hôn nhân là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng đến nay đã xảy ra mâu thuẫn không hàn gắn được, cũng đã sống ly thân một thời gian nhưng không hàn gắn được mâu thuẫn, nên có căn cứ để chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh N.
- Về con chung: Hiện nay cháu Lý Bảo Nghi, sinh ngày 17/12/2007 và cháu Lý Bảo K, sinh ngày 08/9/2014 đang sống với chị Y, cũng nhằm tránh xáo trộn tâm lý của hai cháu nên chấp nhận giao cháu Lý Bảo Nghi và cháu Lý Bảo K cho chị Y tiếp tục nuôi dưỡng. Do các đương sự không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không đặt ra để giải quyết.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về án phí hôn nhân gia đình: Anh Lý Văn N phải nộp theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Anh Lý Văn N yêu cầu ly hôn với chị Quách Ngọc Y có nơi cư trú tại số 1/377, ấp Công Điền, xã Vĩnh Trạch, thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L nên Tòa án nhân dân thành phố Bạc L thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Lý Văn N có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 25/3/2025 nộp tại Tòa án, xét thấy đơn xin xét xử vắng mặt của anh Lý Văn N là hoàn toàn tự nguyện và không trái với pháp luật, nên được chấp nhận. Quá trình Tòa án nhân dân thành phố Bạc L thụ lý vụ án đã triệu tập, thông báo cho chị Quách Ngọc Y tiến hành phiên họp công khai chứng cứ, hoà giải và triệu tập xét xử nhưng chị Quách Ngọc Y đều vắng mặt, kể cả ngày hôm nay (ngày 23/5/2025) cho thấy chị Quách Ngọc Y cố tình trốn tránh. Căn cứ khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải giữa các đương sự; áp dụng Điều 227; Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[3] Về nội dung khởi kiện: Về hôn nhân: Anh Lý Văn N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với chị Quách Ngọc Y; Về con chung sau khi ly hôn anh N đồng ý giao con chung cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, anh N không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
[3.1] Xét về quan hệ hôn nhân: Anh Lý Văn N và chị Quách Ngọc Y tự nguyện tiến tới hôn nhân từ năm 2006, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Trạch, thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 76/2006, ngày 04/7/2006 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Lý Văn N, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hôn nhân được xây dựng trên mối quan hệ tình cảm vợ chồng và các thành viên trong gia đình. Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, cùng nhau chia sẻ, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Tuy nhiên, theo anh Lý Văn N xác định quá trình chung sống thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cãi vả, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không có tiếng nói chung trong gia đình, khi chung sống thì mỗi người một quan điểm sống, không ai biết lắng nghe và chia sẽ công việc hằng ngày, từ đó dẫn đến vợ chồng luôn cự cải làm cho hôn nhân không được hành phúc nên từ đầu năm 2019 vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay. Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, triệu tập chị Y đến Tòa án, nhưng chị Y đều không có ý kiến cũng như không đến Tòa án, cho thấy chị Y không quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân giữa anh và anh Lý Văn N. Ngoài ra, tại biên bản xác minh, đại diện chính quyền địa phương nơi vợ chồng anh N và chị Y sinh sống xác nhận vợ chồng anh N và chị Y có xảy ra mâu thuẫn hôn nhân hay không thì chính quyền không nắm được do không ai trình báo với địa phương nhưng giữa anh N và chị Y có sống ly thân từ đầu năm 2019 cho đến nay là có xảy ra thực tế. Hội đồng xét xử thấy rằng, chỉ vì bất đồng quan điểm trong đời sống vợ chồng mà cả hai không có biện pháp hàn gắn, làm cho đời sống vợ chồng ngày càng xa cách hơn, đời sống chung không còn nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Lý Văn N đối với chị Quách Ngọc Y như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ.
[3.2] Về con chung: Theo lời trình bày của anh N phù hợp với giấy khai sinh và biên bản xác minh của chính quyền địa phương cho thấy giữa anh N và chị Y chung sống với nhau có 02 người con chung là cháu Lý Bảo Nghi, sinh ngày 17/12/2007 và cháu Lý Bảo K, sinh ngày 08/9/2014; Hội đồng xét xử xét thấy hai cháu hiện đang sống cùng với chị Y, để không làm xáo trộn đời sống của hai cháu, vì vậy cần giao cháu Lý Bảo Nghi và cháu Lý Bảo K cho chị Y tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp quy định pháp luật. Anh Lý Văn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Y nhưng chị Y không có bất cứ ý kiến phản hồi gì về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Tuy nhiên, chị Y vẫn có quyền yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
[3.3] Về tài sản chung: Anh N xác định anh và chị Y tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3.4] Về nợ chung: Anh N xác định chị và chị Y không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[4] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc L tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án phù hợp với đánh giá, nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
[5] Về án phí: Anh Lý Văn N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 4 Điều 207, Điều 227, 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lý Văn N được ly hôn với chị Quách Ngọc Y.
- Về con chung: Giao cháu Lý Bảo Nghi, sinh ngày 17/12/2007 và cháu Lý Bảo K, sinh ngày 08/9/2014 cho chị Quách Ngọc Y trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc, (hiện tại hai cháu đang sống chung với chị Y nên được giữ nguyên). Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Y không yêu cầu. Anh Lý Văn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.
- Về tài sản chung: Anh Lý Văn N xác định vợ chồng tự thỏa thuận tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Anh Lý Văn N xác định vợ chồng không có nợ tài sản gì của ai và không ai nợ tài sản gì của vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình anh Lý Văn N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), anh Lý Văn N đã dự nộp số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000072 ngày 17/02/2025, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc L được chuyển thu án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Án sơ thẩm xử công khai, anh Lý Văn N, chị Quách Ngọc Y có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Công Bằng |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Bạc L;
- - VKSND thành phố Bạc L;
- - Chi Cục THA.DS thành phố Bạc L;
- - UBND nơi đăng ký kết hôn;
- - Các đương sự;
- - Lưu.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | ||
| Bùi Công Bằng |
Bản án số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC L, TỈNH BẠC L về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 46/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC L, TỈNH BẠC L
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
