TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2025/HNGĐ-ST
Ngày 03 - 3 - 2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Kiều Thị Uyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Tú Nhi;
- Bà Hoàng Lệ Chi.
Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Trong ngày 03 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 41/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Lan A, sinh năm 1974; địa chỉ thường trú: Số H khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết Vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1967; địa chỉ thường trú: Số H khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 01 năm 2025 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Bà Võ Thị Lan A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Lan A và ông Nguyễn Văn T tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là phường T, thành phố D), tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 58 cấp ngày 07/10/1997.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc, đến sau này cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên tranh cãi, ông Nguyễn Văn T không lo làm ăn, thường xuyên nhậu nhẹt, đánh đập bà Võ Thị Lan A. Cuộc sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt, không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm nên mục đích hôn nhân không đạt được. Nay, Bà Võ Thị Lan A xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với Ông Nguyễn Văn T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung, tên là Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 22/01/2005 và Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 24/12/1994. Các con chung đã trưởng thành, bà Võ Thị Lan A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về phía bị đơn ông Nguyễn Văn T: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã giao thông báo thụ lý vụ án và yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn T có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu của bà Võ Thị Lan A nhưng ông Nguyễn Văn T không có ý kiến. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 26/02/2025; tham gia phiên tòa vào 03/3/2025 nhưng bị đơn vắng mặt không rõ lý do; đồng thời cũng không có ý kiến và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì thể hiện việc đồng ý hay không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn bà Võ Thị Lan A và bị đơn ông Nguyễn Văn T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Lan A và ông Nguyễn Văn T chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là phường T, thành phố D), tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 58 cấp ngày 07/10/1997 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Bà Võ Thị Lan A yêu cầu ly hôn với lý do: cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên tranh cãi, ông Nguyễn Văn T không lo làm ăn, thường xuyên nhậu nhẹt, đánh đập bà Võ Thị Lan A. Cuộc sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt, không hạnh phúc. Bà Võ Thị Lan A xác định tình cảm vợ chồng với ông Nguyễn Văn T không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nên yêu cầu được ly hôn. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập ông Nguyễn Văn T đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông Nguyễn Văn T không có mặt và cũng không có bất kỳ ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn, điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn và không muốn hàn gắn, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân này cũng không đạt được mục đích. Vì vậy, xét thấy không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống chung của vợ chồng nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị Lan A với ông Nguyễn Văn T.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống bà Võ Thị Lan A và ông Nguyễn Văn T có 02 con chung, tên là Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 22/01/2005 và Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 24/12/1994. Các con chung đã trưởng thành, đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[4] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[5] Từ những phân tích trên, xét thấy có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Võ Thị Lan A phải chịu án phí không có giá ngạch theo quy định tại khoản 2 Điều 6 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào các Điều 147, 227, 228, 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Lan A với ông Nguyễn Văn T
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Lan A được ly hôn với ông Nguyễn Văn T (chứng nhận kết hôn số 58 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là phường T, thành phố D), tỉnh Bình Dương cấp ngày 07/10/1997).
- Về con chung: Các con chung đã đủ 18 tuổi, nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị Lan A phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007755 ngày 14/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Kiều Thị Uyên |
Bản án số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 46/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Võ Thị Lan A yêu cầu ly hôn, nuôi con với anh Nguyễn Văn T
