TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP ————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 46/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16 – 12 – 2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Trinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Dài.
- Ông Phạm Văn Liệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Thanh Phong – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Không.
Ngày 16 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 196/2025/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2025/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thúy H 1994. Địa chỉ: Ấp P, xã A, tỉnh Đồng Tháp
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1989. Địa chỉ: Ấp P, xã A, tỉnh Đồng Tháp
(Chị Nguyễn Thúy H1 có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Văn D vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, biên bản phiên họp, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thúy H1 trình bày:
Về hôn nhân: Chị H2anh D sống chung như vợ chồng vào năm 2009 nhưng không đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống với nhau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng ý kiến, tính tình không hợp nhau, không hòa hợp trong cuộc sống, vợ chồng hay cãi vã. Anh D1quan tâm, lo lắng cho gia đình. Hiện nay, mâu thuẫn kéo dài dẫn đến tình cảm vợ chồng trở nên phai nhạt, hôn nhân không hạnh phúc. Vợ chồng không còn sống chung với nhau từ giữa năm 2024 đến nay, thời gian sống xa nhau không có hàn gắn tình cảm. Chị H3kết chị và anh D1 đến nay không đăng ký kết hôn tại đâu nếu sai xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, mỗi người cần có cuộc sống riêng nên chị H yêu cầu ly hôn với anh D
Về con chung: Chị Nguyễn T H4cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con tên Nguyễn Thị Kim P 24/09/2020 đến khi cháu thành niên. Chị Nguyễn T H1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Chị Nguyễn T H5nhất giao cháu Nguyễn Q H6ngày 10/02/2010 cho anh Nguyễn Văn D được quyền nuôi dưỡng đến khi thành niên. Chị Nguyễn T H7cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Văn D không có ý kiến trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Theo yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thúy H1 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại xã A, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị Nguyễn T H1 vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thúy H1 là đúng theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn D là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân:
Chị Nguyễn Thúy H1 và anh Nguyễn Văn D tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2009 nhưng không có đăng ký kết hôn theo luật định nên đã vi phạm vào Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.
Trong thời gian chung sống, chị Nguyễn Thúy H1 và anh Nguyễn Văn D phát sinh mâu thuẩn trầm trọng do bất đồng ý kiến, tính tình không hợp nhau, không hòa hợp trong cuộc sống, vợ chồng hay cãi vã. Tuy nhiên, do chị Nguyễn Thúy H1 và anh Nguyễn Văn D chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn nên không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thúy H1 và anh Nguyễn Văn D là phù hợp với Điều 9, Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung:
Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Kim P 24/09/2020 và Nguyễn Quốc H1sinh ngày 10/02/2010. Hiện nay, cháu P đang sống với chị H8H1đang sống với anh D.
Sau khi ly hôn, chị H4cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu P2khi cháu thành niên và thống nhất giao cháu H1cho anh D được quyền nuôi dưỡng đến khi thành niên.
Để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và tinh thần cho các cháu và tránh việc thay đổi môi trường sống của các cháu. Đồng thời, nguyện vọng ý kiến của cháu H1là muốn được sống với anh D. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của chị H được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Kim P 24/09/2020 đến khi thành niên và giao cháu Nguyễn Q H6ngày 10/02/2010 cho anh D3tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên
Chị H và anh D trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không cản trở bên còn lại không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con là phù hợp với các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con:
Anh D không phải cấp dưỡng nuôi cháu P do chị H không yêu cầu. Chị H7phải cấp dưỡng nuôi cháu H1do anh D không có văn bản ý kiến và chị H7tự nguyện cấp dưỡng.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung:
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thúy H1 xác định chị và anh Nguyễn Văn D về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nhưng không có ý kiến của anh Nguyễn Văn D, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này; nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.
[3] Về án phí:
Chị Nguyễn T H1 phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thúy H3
- - Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thúy H1 và anh Nguyễn Văn D.
- - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Kim P 24/09/2020 cho chị Nguyễn T H1 được tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên. Anh Nguyễn Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn T H1 không yêu cầu.
- Giao cháu Nguyễn Q H6ngày 10/02/2010 cho anh Nguyễn Văn D được tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên. Chị Nguyễn T H1 không phải cấp dưỡng nuôi con do anh D không có ý kiến và chị H7tự nguyện cấp dưỡng.
- Chị H10Dcó quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai cản trở.
- Chị H4 D4các thành viên gia đình không cản trở bên còn lại trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- - Về án phí:
- Chị Nguyễn T H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006318 ngày 29/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp. Chị Nguyễn Thúy H1 đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Anh Nguyễn Văn D không phải chịu án phí.
Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Trinh |
Bản án số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 46/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thúy H1 và anh Nguyễn Văn D.
