Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ P

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HNGĐ - ST

Ngày 13 tháng 6 năm 2025

“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Tô Thị Lành
  • Bà Phạm Thị Kim Loan

- Thư ký phiên tòa: Ông Diệp Bảo Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 154/2025/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2025/QĐST - HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1989

Địa chỉ: Số 371 đường TĐ, phường HA, quận CL, thành phố Đà Nẵng.

Có mặt

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc H, sinh năm 1987

Địa chỉ: Số 21/125 đường LVH, tổ 04, phường YT, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Theo đơn khởi kiện ngày 14 tháng 3 năm 2025, bản tự khai ngày 17 tháng 3 năm 2025, các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày: Chị và anh Nguyễn Quốc H tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai ngày 13 tháng 01 năm 2012. Quá trình chung sống, do bất đồng quan điểm, tính cách không hòa hợp, không có tiếng nói chung nên anh chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn; anh H gia trưởng, vũ phu, vợ chồng tranh chấp anh H đều dùng vũ lực dẫn đến ảnh hưởng tinh thần và sức khỏe của chị. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng đến mức chị và anh H đã sống ly thân được 03 năm. Chị tự nhận thấy không thể tiếp tục duy trì hôn nhân nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Quốc H.

Chị và anh Nguyễn Quốc H có 02 (hai) con chung là cháu Nguyễn Ý T, sinh ngày 19 tháng 10 năm 2011 và cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 20 tháng 10 năm 2015. Cháu T hiện đang sống với anh H còn cháu N hiện đang sống với chị. Từ khi phát sinh mâu thuẫn, chị và anh H đã phân chia con và nuôi các con từ đó đến nay. Ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và đồng ý giao cháu T cho anh H chăm sóc, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về phân chia tài sản chung và nghĩa vụ chung phải thực hiện.

2. Đối với bị đơn anh Nguyễn Quốc H: Anh Nguyễn Quốc H đã được Tòa án nhân dân thành phố P triệu tập hợp lệ nhiều lần để trình bày ý kiến về yêu cầu ly hôn, nghĩa vụ nuôi con sau ly hôn của chị Nguyễn Thị D nhưng anh không đến Tòa án làm việc. Vì vậy Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng theo luật định để xét xử vắng mặt bị đơn.

3. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P có ý kiến về tố tụng và đề xuất quan điểm giải quyết như sau:

Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố P thụ lý và giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về thụ lý vụ án, thẩm quyền giải quyết vụ án, thu thập chứng cứ, thông báo về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như trình tự phiên tòa. Đảm bảo về thời hạn chuẩn bị xét xử. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng. Đối với bị đơn anh Nguyễn Quốc H, việc chấp hành theo pháp luật tố tụng còn hạn chế.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị D về yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Quốc H; giao con chung Nguyễn Ý T, sinh ngày 19 tháng 10 năm 2011 cho anh H và giao con chung Nguyễn Bảo N, sinh ngày 20 tháng 10 năm 2015 cho chị D chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn. Chị Nguyễn Thị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Quốc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không thuộc trường hợp cấm kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai ngày 13 tháng 01 năm 2012. Hôn nhân của anh chị tuân thủ theo các Điều 9,10,11 Luật hôn nhân gia đình năm 2000 nên hôn nhân hợp pháp.

Do mâu thuẫn gia đình, chị D yêu cầu giải quyết ly hôn với anh H, bị đơn cư trú trên địa bàn thành phố P nên thẩm quyền giải quyết thuộc về Tòa án nhân dân thành phố P theo loại việc, theo lãnh thổ và theo cấp xét xử.

Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh Nguyễn Quốc H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị D, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải cũng như tham gia phiên tòa nhưng anh Hải vắng mặt. Do đó căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Theo thông tin xác minh, chính quyền địa phương không xác định được mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Quốc H. Tuy nhiên, từ thực tế anh chị không cùng chung sống và thái độ của anh H không quan tâm đến việc chị D yêu cầu ly hôn cho thấy tình cảm vợ chồng đã lạnh nhạt, mâu thuẫn gia đình đã nghiêm trọng đến mức anh chị không thể tiếp tục chung sống. Từ đó có cơ sở khẳng định hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Quốc H phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị D, xử cho chị D được ly hôn với anh Nguyễn Quốc H.

[3] Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Quốc H có 02 (hai) con chung là cháu Nguyễn Ý T, sinh ngày 19 tháng 10 năm 2011 và cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 20 tháng 10 năm 2015.

Từ thực tế con chung Nguyễn Bảo N đang sống với chị Nguyễn Thị D còn cháu Nguyễn Ý T hiện đang sống với anh Nguyễn Quốc H và nguyện vọng của cháu Ngân muốn chung sống với chị D. Trên cơ sở đảm bảo sự phát triển ổn định về tâm sinh lý của các cháu Nguyễn Ý T và Nguyễn Bảo N, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị D đối với con chung, theo đó giao cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi con Nguyễn Bảo N, giao cho anh Nguyễn Quốc H trực tiếp nuôi con Nguyễn Ý T.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, phân chia tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị Nguyễn Thị D không yêu cầu giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét trong cùng vụ án này.

[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 97, Điều 227, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 9,10,11, 92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

Áp dụng Điều 51, 53, 54, 56, 57, 81, 82, 83, 84 và 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 146, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị D
  2. Chị Nguyễn Thị D được ly hôn với anh Nguyễn Quốc H

  3. Về con chung:
  4. Giao 01 (một) con chung là cháu Nguyễn Ý T, sinh ngày 19 tháng 10 năm 2011 cho anh Nguyễn Quốc H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

    Giao 01 (một) con chung là cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 20 tháng 10 năm 2015 cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

    Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

  5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp trước đây theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 001315 ngày 17 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P. Chị Nguyễn Thị D đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo để Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố P;
  • - Chi cục thi hành án dân sự thành phố P;
  • - Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai (Chứng nhận kết hôn số 02 ngày 13/01/2012);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Thanh Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HNGĐ - ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 46/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, giải quyết con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger