|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 46/2025/HNGĐ-ST Ngày: 11/4/2025 V/v "Tranh chấp ly hôn và nuôi con" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Phong
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hằng
- 2. Ông Trần Thanh Khen
- - Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồ Quế Thanh – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ tham gia phiên toà: Không tham gia
Trong ngày 11 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 622/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Phương A, sinh năm 1996; Địa chỉ: Số G, TỔ H, T, phường T, thành phố Q, tỉnh Quãng Ngãi (xin vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Trần Huỳnh V, sinh năm 1987; Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Thị Phương A trình bày: Chị Phạm Thị Phương A và anh Trần Huỳnh V tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn ngày 31/01/2018 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau hạnh phúc không được bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi với nhau. Đã nhiều lần cố gắng để hòa giải nhưng không được và vợ chồng đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay.
Nay nhận thấy tình cảm giữa vợ chồng không còn nữa, mâu thuẫn ngày càng gay gắt hơn không thể khắc phục, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Phương A yêu cầu ly hôn với anh Trần Huỳnh V.
- - Về con chung: Trong quá trình chung sống có 02 con chung tên Trần Phạm Phước V1, sinh ngày 03/01/2018 và Trần Phạm Mai V2, sinh ngày 22/8/2019. Hiện nay đang sống chung với chị Phương A. Khi ly hôn chị Phương A yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đ/ cháu cho đến khi tròn 18 tuổi.
- - Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ngoài ra không có ý kiến và yêu cầu gì khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Trần Huỳnh V đã được tống đạt hợp lệ nhưng không có bản tự khai cũng như tham dự phiên hòa giải.
Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Phạm Thị Phương A có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long giải quyết việc hôn nhân của chị Phạm Thị Phương A và anh Trần Huỳnh V. Anh V có địa chỉ tại ấp H, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt phiên tòa nên căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự nên tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn quen biết nhau rồi tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào ngày 31/01/2018 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long là phù hợp với quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, do đó quan hệ hôn nhân là hợp pháp và được pháp luật công nhận.
Xét yêu cầu ly hôn của chị Phương A, Tòa án xét thấy: Theo lời khai của chị Phương A thì vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2020 và đã không còn sống chung cho đến nay. Qua đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa các đương sự mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Phương A yêu cầu ly hôn tuy nhiên anh V không có bản khai ý kiến gửi Toà án cũng như tham dự phiên hòa giải. Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phương A là phù hợp Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về con chung: có 02 con chung tên Trần Phạm Phước V1, sinh ngày 03/01/2018 và Trần Phạm Mai V2, sinh ngày 22/8/2019. Hiện nay đang sống chung với chị Phương A. Xét nguyên đơn yêu cầu trực tiếp trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng là có căn cứ. Bởi vì, hiện nay chị Phương A đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung và cháu V1 có nguyện vọng khi cha mẹ ly hôn là sống chung với mẹ. Vì vậy, Tòa án tiếp tục giao con chung cho nguyên đơn tiếp tục chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Phương A yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đ/ cháu cho đến khi tròn 18 tuổi.
Xét yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ để chấp nhận, vì theo Điều 11 về Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con quy định: Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con. Cháu Vinh và cháu Vy hiện nay chưa thành niên nên ah Vỉnh phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi hai con chung. Về mức cấp dưỡng mỗi tháng 1.000.000đ/ cháu theo quy định tại khoản 1 Điều 116. Mức cấp dưỡng luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Khoản 2 Điều 7 về Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình của Nghị quyết Số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình quy định: Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con. Theo nơi sống của anh V là thuộc khu vực 3 có mức lương tối thiểu vùng là 3.800.000đ/tháng. Đáng lẻ anh V phải có trách nhiệm cấp dưỡng mỗi cháu 1.900.000đ/ tháng / cháu (1/2 mức lương tối thiểu vùng), tuy nhiên chị A yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung với mức 1.000.000đ/tháng/cháu đây là yêu cầu có lợi cho bị đơn mặc khác trong quá trình giải quyết anh V không có ý kiến gì về cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án chấp nhận. Còn thời gian cấp dưỡng nguyên đơn không yêu cầu nên không xét.
- - Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- - Về nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[3]Về án phí: Căn cứ Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí giải quyết vụ án hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 300.000đ. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng trước 300.000đ biên lai thu số 0001731 ngày 05/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long nên được trừ không phải nộp thêm nữa.
Theo điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải chịu án phí không giá ngạch do đó buộc bị đơn nộp 300.000đ tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng:
- - Các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235 và 238 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- - Các Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 110, Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- - Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Phương A.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Thị Phương A được ly hôn với anh Trần Huỳnh V.
- Về con chung: Giao cháu Trần Phạm Phước V1, sinh ngày 03/01/2018 và Trần Phạm Mai V2, sinh ngày 22/8/2019 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Sau khi ly hôn, anh Trần Huỳnh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở và không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- - Buộc anh Trần Huỳnh V phải có nghĩa vụ cấp dưỡng như sau:
- + Cấp dưỡng nuôi cháu Trần Phạm Phước V1, sinh ngày 03/01/2018 với mức 1.000.000đ (Một triệu đồng)/tháng cho đến khi tròn 18 tuổi
- + Cấp dưỡng nuôi cháu Trần Phạm Mai V2, sinh ngày 22/8/2019 với mức 1.000.000đ (Một triệu đồng)/tháng cho đến khi tròn 18 tuổi
- - Anh Trần Huỳnh V có quyền yêu cầu thay đổi việc trực tiếp nuôi chung nếu sau này có yêu cầu.
- - Chị Phạm Thị Phương A có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con nếu sau này có yêu cầu.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc nguyên đơn nộp 300.000đ. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng trước 300.000đ biên lai thu số 0001731 ngày 05/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ nên được trừ không phải nộp thêm nữa.
Buộc anh Trần Huỳnh V nộp án phí cấp dưỡng nuôi con chung là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Huỳnh Tấn Phong |
Bản án số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 46/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận cho ly hôn
