Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 10-6-2025

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Trọng Vũ
  2. Bà Đinh Thị Thanh Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Hiền Diệu – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 132/2025/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 145/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1964. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Đ, sinh năm 1965. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án, đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nguyên đơn ông Lê Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Ông và bà Huỳnh Thị Đ tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 14/8/1996 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, thời gian sau thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng có bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn kéo dài nhưng ông bà vẫn không khắc phục được nên vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2020 cho đến nay. Nay ông xác định vợ chồng không thể nào tiếp tục chung sống với nhau được nữa. Do đó, ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Đ. Ông không yêu cầu Tòa án xem xét đến việc cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn. Do bận công việc làm ăn nên ông yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt ông trong vụ án này.

Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Minh H, sinh ngày 12/10/1986 và Lê Thị Hồng N, sinh ngày 07/8/2000. Hiện 02 con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Ông T và bà Đ tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn bà Huỳnh Thị Đ trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải, hồ sơ khởi kiện photo theo đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bà Đ đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến hay yêu cầu của bà Đ.

Tại phiên tòa sơ thẩm Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ theo quy định của pháp luật; riêng bị đơn không tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T và bà Đ kéo dài nhưng ông bà không tự khắc phục được. Trong suốt quá trình tố tụng, bà Đ vắng mặt, điều đó cho thấy bà Đ không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nên có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T và bà Đ đã trầm trọng, hôn nhân có kéo dài cũng không hạnh phúc nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đ theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Minh H, sinh ngày 12/10/1986 và Lê Thị Hồng N, sinh ngày 07/8/2000. Hiện 02 con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận nên không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Ông T khai không có nên không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Tòa án ghi nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa ông Lê Văn T và bà Huỳnh Thị Đ là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Huỳnh Thị Đ có nơi cư trú tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải nhưng bị đơn bà Huỳnh Thị Đ vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án đã tiến hành lập biên bản không hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự và đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Huỳnh Thị Đ vẫn vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Đ.

Nguyên đơn ông Lê Văn T có yêu cầu xét xử vắng mặt tại phiên tòa, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Lê Văn T là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Ông Lê Văn T và bà Huỳnh Thị Đ tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 14/8/1996 nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp. Ông T xác định nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do cả hai có bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau nên hiện tại ông T và bà Đ đã sống ly thân. Tại biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân của Tòa án cũng xác định ông T và bà Đ đã ly thân được một thời gian. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mở phiên hòa giải để hai bên hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bà Đ không tham gia phiên hòa giải, điều đó cho thấy bà Đ không có thiện chí mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Từ đó có cơ sở để xác định, mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T và bà Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì quan hệ hôn nhân này sẽ ảnh hưởng đến đời sống bình thường của các thành viên trong gia đình nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T. Ghi nhận ông T không yêu cầu về cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.

[3] Về con chung: Ông T và bà Đ có 02 con chung tên Lê Minh H, sinh ngày 12/10/1986 và Lê Thị Hồng N, sinh ngày 07/8/2000. Hiện 02 con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Ông T tự thỏa thuận với bà Đ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về nợ chung: Không có.

Xét thấy, bà Đ vắng mặt, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà về phần tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét về vấn đề này.

[6] Về án phí: Ông Lê Văn T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng do ông Lê Văn T là người cao tuổi và có đơn xin miễn tiền tạm ứng án phí, án phí theo quy định nên căn cứ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án ông Lê Văn T được miễn án phí.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[8] Từ những nhận định nêu trên, xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 56, 58, 115 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ông Lê Văn T ly hôn với bà Huỳnh Thị Đ. Ghi nhận ông Lê Văn T không yêu cầu về cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.
  2. Về con chung: Ông T và bà Đ có 02 con chung tên Lê Minh H, sinh ngày 12/10/1986 và Lê Thị Hồng N, sinh ngày 07/8/2000. Hiện 02 con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Ông T tự thỏa thuận với bà Đ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về nợ chung: Không có.
  5. Về án phí: Ông Lê Văn T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng do ông Lê Văn T là người cao tuổi và có đơn xin miễn tiền tạm ứng án phí, án phí theo quy định nên căn cứ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án ông Lê Văn T được miễn án phí.

Ông Lê Văn T và bà Huỳnh Thị Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án này được thi hành theo qui định tại điều 02 của Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được qui định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Phòng GĐKT TAND tỉnh Bến Tre;
  • - UBND xã Tiên Long, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Ngọc Trâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE về ly hôn

  • Số bản án: 46/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger