|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 46/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 06-6-2025
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Hoàng và ông Nguyễn Thanh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Mộng Thu là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 478/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Mộng T, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Văn M, sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Đặng Thị Mộng T trình bày:
- Về hôn nhân: vào năm 1996, bà T và ông M tự tìm hiểu yêu thương nhau, được gia đình hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới, nhưng không đăng ký kết hôn. Sau khi tổ chức lễ cưới, bà T và ông M sinh sống ở ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang. Thời gian đầu, bà T và ông M chung sống hạnh phúc đến năm 2022 phát sinh mâu thuẫn về tình cảm và kinh tế, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được và sống xa nhau từ năm 2023 cho đến nay, không liên lạc với nhau. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn nên bà T kiên quyết ly hôn với ông M.
- Về con chung: Bà T và ông M có 02 con chung tên Lê Thị Ngọc G, sinh ngày 16/02/2008 và Lê Ngọc S, sinh ngày 09/6/1998. Hiện nay 02 cháu đang sống chung với bà T, sau khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu G, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con chung tên G; cháu S đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bà Đặng Thị Mộng T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ông Lê Văn M vắng mặt.
- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự chấp hành thủ tục tố tụng từ khi thụ lý đến khi xét xử đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71, 191, 192, 203 và Điều 239 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, không công nhận bà Đặng Thị Mộng T và ông Lê Văn M là vợ chồng; về con chung: Đề nghị HĐXX giao đứa con chung tên Lê Thị Ngọc G, sinh ngày 16/02/2008 cho bà T được tiếp tục nuôi dưỡng, bà T không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; về tài sản chung và nợ chung bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Đặng Thị Mộng T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Bà Đặng Thị Mộng T có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Văn M có nơi cư trú tại tổ A, ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Lê Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.
Về nội dung:
[1] Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Mộng T và ông Lê Văn M chung sống với nhau từ năm 1996, có tổ chức lễ cưới nhưng không có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới thì vợ chồng chung sống có hạnh phúc, đến năm 2022 phát sinh mâu thuẫn về tình cảm và kinh tế, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được và sống xa nhau từ năm 2023 cho đến nay, không liên lạc với nhau. Nay bà T yêu cầu được ly hôn với ông M. Hội đồng xét xử xét thấy tuy anh chị chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân không hợp pháp và qua xác minh tại UBND xã V, xác nhận qua tra cứu, rà soát D thì không thấy thông tin đăng ký kết hôn của bà Đặng Thị Mộng T và ông Lê Văn M. Do đó, HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xét không công nhận bà Đặng Thị Mộng T và ông Lê Văn M là vợ chồng.
[3] Về con chung: Bà T và ông M có 02 con chung tên Lê Thị Ngọc G, sinh ngày 16/02/2008 và Lê Ngọc S, sinh ngày 09/6/1998. Hiện nay 02 cháu đang sống chung với bà T, sau khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu G, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con chung tên G; cháu S đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay cháu Lê Thị Ngọc G đang sống với bà T và cháu G cũng có nguyện vọng được sống với mẹ. Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 58, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xét, giao con chung tên Lê Thị Ngọc G, sinh ngày 16/02/2008 cho bà T được quyền nuôi dưỡng cho đến khi cháu Lê Thị Ngọc G trưởng thành và lao động được.
“Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con; ông M có quyền đến thăm nom con chung, không ai được cản trở; cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Đặng Thị Mộng T không yêu cầu ông Lê Văn M cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Lê Văn M.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Tại phiên tòa bà Đặng Thị Mộng T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do ông M vắng mặt nên HĐXX không xem xét về tài sản chung và nợ chung của ông bà. Nếu ông M chứng minh được vợ chồng có tài sản chung và yêu cầu chia tài sản chung thì ông có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác.
[6] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Đặng Thị Mộng T phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Không công nhận bà Đặng Thị Mộng T và ông Lê Văn M là vợ chồng.
Về con chung: Giao con chung tên Lê Thị Ngọc G, sinh ngày 16/02/2008 cho bà Đặng Thị Mộng T được quyền nuôi dưỡng cho đến khi cháu Lê Thị Ngọc G trưởng thành và lao động được.
“Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con; ông M có quyền đến thăm nom con chung, không ai được cản trở; cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đặng Thị Mộng T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp biên lai thu số: 0008907 ngày 29/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
“Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ”.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Ngọc Lan |
Bản án số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 46/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con chung
