|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2025/HNGĐ-ST
Ngày 06-6-2025
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Phan Tuyến.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Minh Hoàng;
- Ông Nguyễn Thanh Phong.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vương Lệ Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Võ Lê Trúc Phương, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Trúc P, sinh năm 1991; địa chỉ: số C, hẻm B, đường Đ, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Lê Hoàng N, sinh năm 1990; địa chỉ: Số B, đường T, ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam T, huyện H, tỉnh Bình Phước về tội “Đánh bạc”; có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 06-02-2025 bản tự khai và các lời khai tại Tòa án của nguyên đơn chị Trần Thị Trúc P trình bày:
Chị và anh Lê Hoàng N kết hôn với nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh ngày 09-12-2019; quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên xảy ra bạo lực gia đình, chị đã ly thân với anh N từ đó đến nay. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau được nữa nên xin ly hôn với anh Lê Hoàng N.
Về con chung: Có 02 cháu tên Lê Hoàng Phúc A, sinh năm 2020 và Lê Hoàng K, sinh năm 2022 hiện đang sống với mẹ anh N (bà nội), chị đồng ý giao cho anh N nuôi.
Về tài sản chung và nợ chung không có: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn, tại bản tự khai ngày 14-5-2025 anh Lê Hoàng N trình bày:
Năm 2019 anh có kết hôn với chị Trần Thị Trúc P, có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; sau khi kết hôn vợ chồng sống bên gia đình anh, khi anh đi làm ở Campuchia có gửi tiền về cho vợ, vợ lấy hết tiền rồi bỏ con đi. Nay yêu cầu ly hôn anh đồng ý ly hôn.
Con chung: Có 02 cháu tên Lê Hoàng Phúc A, sinh năm 2020 và Lê Hoàng K, sinh năm 2022 hiện đang sống với mẹ anh, anh yêu cầu được nuôi, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, xác định tư cách pháp lý người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, tư cách pháp lý và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự sơ thẩm; người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định.
+ Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51; 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Trúc P đối với anh Lê Hoàng N; con chung giao cho anh N nuôi, ghi nhận anh N không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung: không giải quyết; đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Trần Thị Trúc P, bị đơn anh Lê Hoàng N có đơn xin vắng mặt; Tòa án đã tiến hành đúng và đầy đủ thủ tục để bảo đảm cho việc xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Trúc P: Theo chị P khai năm 2019 chị và anh Lê Hoàng N kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh ngày 09-12-2019 là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ; quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên xảy ra bạo lực gia đình, chị đã ly thân với anh N từ đó đến nay. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau được nữa nên xin ly hôn với anh Lê Hoàng N. Xét thấy quá trình giải quyết vụ án tại bản tự khai ngày 14-5-2025 anh Lê Hoàng N trình bày chị P xin ly hôn anh cũng đồng ý ly hôn. Do đó căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Trúc P đối với anh Lê Hoàng N.
[3] Về con chung: Có 02 cháu tên Lê Hoàng Phúc A, sinh năm 2020 và Lê Hoàng K, sinh năm 2022 hiện đang sống với mẹ anh N, anh N yêu cầu được nuôi, không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con; chị P đồng ý giao con cho anh N nuôi. Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Do đó sau khi ly hôn chị P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị P và anh N khai thống nhất không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chị P phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, được khấu trừ 300.000 đồng từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0004018 ngày 11-02-2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Trúc P đối với anh Lê Hoàng N; chị Trần Thị Trúc P được ly hôn với anh Lê Hoàng N.
- Về con chung: Giao cho anh Lê Hoàng N nuôi 02 cháu Lê Hoàng Phúc A, sinh năm 2020 và Lê Hoàng K, sinh năm 2022; ghi nhận anh N không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con; chị P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.
- Án phí: Chị Trần Thị Trúc P phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, được khấu trừ 300.000 đồng từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0004018 ngày 11-02-2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án các bên được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Riêng đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại UBND xã (phường) nơi cư trú.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án Dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Phan Tuyến |
Bản án số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 46/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị P yêu cầu ly hôn với anh N
