Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HNGĐ - ST.

Ngày: 02/6/2025.

V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Ngô Thị Luân.
  2. Bà Thạch Thị Lan Nhung.

- Thư ký phiên toà: Bà Đàm Thị Thu Duy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Duy Hoàng Thao - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 125/2025/TLST - HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025 và quyết định hoãn phiên Tòa số 15/2025/QĐST - DS ngày 19 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Thôn Y, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Bà Phạm Thị Q, sinh năm: 1984.

Địa chỉ: Thôn Y, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

(Ông T có đơn xin xét xử vắng mặt; bà Q vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn ly hôn và bản tự khai nguyên đơn ông Nguyễn Quang T trình bày: Ông và bà Q xây dựng gia đình với nhau vào năm 2014, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống chung của vợ chồng ông bà hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng ông bà bất đồng với nhau về quan điểm sống, lối sống. Bất đồng về làm ăn kinh tế. Từ đó vợ chồng ông bà thường xuyên sảy ra mâu thuẫn và sô sát với nhau. Nay, ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Q.

Về con chung: Ông xác định vợ chồng ông bà có một con chung là cháu Nguyễn Phi L, sinh ngày 17/02/2012. Khi ly hôn ông yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu bà Q phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Ông xác định vợ chồng ông bà không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Ông xác định vợ chồng ông bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Bị đơn bà Phạm Thị Q trình bày: Bà và ông T xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện L vào năm 2014. Cuộc sống chung của vợ chồng ông bà hòa thuận hạnh phúc được vài năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vấn đề kinh tế trong gia đình. Bên cạnh đó ông T thường xuyên đánh đập bà. Từ đó vợ chồng ông bà thường xuyên sảy ra mâu thuẫn và sô sát với nhau. Hiện nay vợ chồng ông bà đã sống ly thân. Nay ông T yêu cầu ly hôn với bà thì bà không đồng ý ly hôn bởi lý do bà là người theo đạo nên không được ly hôn chứ không phải bà còn tình cảm gì với anh T.

Về con chung: Vợ chồng ông bà có 01 con chung tên là Nguyễn Phi L, sinh ngày 17/12/2012. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Bà xác định vợ chồng ông bà không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Bà xác định vợ chồng ông bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Quang T. Xử cho ông Nguyễn Quang T và bà Phạm Thị Q được ly hôn. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Phi L, sinh ngày 17/12/2012 cho bà Q có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Ông T, bà Q xác định vợ chồng ông bà không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Ông T, bà Q xác định vợ chồng ông bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về án phí: Buộc ông Nguyễn Quang T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Quang T có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn bà Phạm Thị Q vắng mặt tại phiên Tòa lần thứ hai mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vắng mặt ông T, bà Q theo thủ tục chung là phù hợp.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà Q xây dựng gia đình với nhau vào năm 2014 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào năm 2014 nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án ông T xác định cuộc sống chung của vợ chồng ông bà hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng ông bà bất đồng với nhau về quan điểm sống, lối sống. Bất đồng về làm ăn kinh tế. Từ đó vợ chồng ông bà thường xuyên sảy ra mâu thuẫn và sô sát với nhau. Nay, ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Q. Còn bà Q thì cho rằng cuộc sống chung của vợ chồng ông bà hòa thuận hạnh phúc được vài năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vấn đề kinh tế trong gia đình. Bên cạnh đó ông T thường xuyên đánh đập bà. Vợ chồng ông bà hiện nay đã sống ly thân. Nay ông T yêu cầu ly hôn với bà thì bà không đồng ý ly hôn bởi lý do bà là người theo đạo nên không được ly hôn chứ không phải bà còn tình cảm với anh T.

Xét thấy, trong thời gian chung sống với nhau vợ chồng ông T, bà Q thường xuyên sảy ra mâu thuẫn với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng ông bà bất đồng với nhau về quan điểm sống, bất đồng với nhau về kinh tế trong gia đình. Do bất đồng với nhau nên vợ chồng ông bà đã tự sống ly thân. Trong thời gian sống ly thân thì tình cảm vợ chồng ông bà vẫn không cải thiện được. Bên cạnh đó bà Q xác định bà không còn tình cảm vợ chồng với ông T. Việc bà Q không đồng ý ly hôn chỉ vì lý do bà là người theo đạo. Đồng thời qua xác minh thì được biết trong thời gian chung sống với nhau vợ chồng ông T, bà Q phát sinh mâu thuẫn với nhau đã lâu. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng ông bà bất đồng với nhau về quan điểm sống. Do không tìm được biện pháp để cải thiện tình cảm nên ông bà đã tự sống ly thân với nhau. Vợ chồng ông T, bà Q đã sống ly thân với nhau khoảng hơn 05 năm nay. Trong thời gian sống ly thân nhưng tình cảm vợ chồng ông bà vẫn không cải thiện được. Vì vậy, nếu kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các bên do mâu thuẫn đã kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của ông T, xử cho ông T và bà Q được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.

[3] Về con chung: Ông T và bà Q xác định vợ chồng ông bà có 01 con chung là cháu Nguyễn Phi L, sinh ngày 17/12/2012. Khi ly hôn các bên đương sự đều yêu cầu được nuôi con chung. Xét thấy, hiện nay cháu L đã trên 7 tuổi và có nguyện vọng được ở với bà Q. Bên cạnh đó từ khi vợ chồng ông bà sống ly thân cho đến nay cháu L ở với bà Q. Để đảm bảo cho sự phát triển ổn định của cháu L nên căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung là cháu Nguyễn Phi L, sinh ngày 17/12/2012 cho bà Q có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là hoàn toàn phù hợp.

Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà Q không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Ông T, bà Q xác định về tài sản chung vợ chồng ông bà không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

[5] Về nợ chung: Ông T, bà Q xác định vợ chồng ông bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Buộc ông Nguyễn Quang T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 53; khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận đơn ly hôn của ông Nguyễn Quang T, xử cho ông Nguyễn Quang T và bà Phạm Thị Q được ly hôn.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Phi L, sinh ngày 17/12/2012 cho bà Phạm Thị Q có trách nhiệm trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục theo nguyện vọng của con. Ông Nguyễn Quang T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; Quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

  3. Về án phí: Ông Nguyễn Quang T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông T đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0005302 ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, ông T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm./.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - VKSND huyện Lâm Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Hà;
  • - Các đương sự;
  • - Cơ quan đăng ký kết hôn;
  • - Lưu AV – HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Hữu Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HNGĐ - ST. ngày 02/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 46/2025/HNGĐ - ST.
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trung - Quang
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger