Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 01-4-2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Trọng Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Công và bà Nguyễn Thị Túy Phượng.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 16/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17/3/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Tô Huỳnh Sơn D, sinh năm 1990; nơi thường trú: 1 B khu phố Đ, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc G, sinh năm 1990; nơi thường trú: 1 B khu phố Đ, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt lần thứ 2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 23/9/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Tô Huỳnh Sơn D trình bày:

Ông Tô Huỳnh Sơn D và bà Nguyễn Thị Ngọc G tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 99-2017, ngày 22/12/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, tình trạng kéo dài căng thẳng, đã nhiều lần hàn gắn nhưng không được dẫn đến cuộc sống gia đình không hòa hợp, thường xuyên xảy ra xung đột không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên phát sinh cãi vã, không còn hạnh phúc, gia đình hai bên cũng khuyên bảo, hàn gắn nhưng không có kết quả; vợ chồng đã ly thân khoảng gần 02 năm nay, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, không còn khả năng đoàn tụ được nên ông Tô Huỳnh Sơn D yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc G.

Về con chung: Thời gian chung sống, ông D và bà G sinh được 02 người con chung tên Tô Ngọc Bảo C, sinh ngày 17/6/2020 và Tô Trung S, sinh ngày 10/11/2022, các con hiện đang sống chung với bà G. Sau khi ly hôn, ông D đồng ý giao hai con cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng: Sau khi ly hôn, ông D tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 2.500.000 đồng/ con/ tháng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kèm theo ý kiến, yêu cầu của mình, nguyên đơn đã cung cấp các tài liệu, chứng cứ là bản sao: Trích lục kết hôn, giấy khai sinh của các con chung, căn cước công dân.

* Bị đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc G trình bày:

Bà G thống nhất với trình bày của ông D về thời gian, điều kiện kết hôn, con chung. Về mâu thuẫn vợ chồng bà G cho rằng cuộc sống gia đình đang bình thường, thỉnh thoảng có xảy ra mâu thuẫn do áp lực công việc, khoảng gần 02 năm nay ông D hay đi làm xa và thường xuyên không về nhà. Tuy nhiên chỉ là mâu thuẫn nhỏ; bà G cho rằng hiện nay mâu thuẫn gia đình không có gì nghiêm trọng để phải ly hôn; bà G vẫn còn tình cảm với ông D và thương các con, muốn cùng ông D chăm lo gia đình và nuôi dạy các con ăn học nên không đồng ý ly hôn. Trường hợp ông D vẫn giữ nguyên ý định ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Bà G yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục các con chung là Tô Ngọc Bảo C, sinh ngày 17/6/2020 và Tô Trung S, sinh ngày 10/11/2022; Về cấp dưỡng nuôi con, bà G thống nhất với mức cấp dưỡng của ông D. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn lần thứ 2 vắng mặt tại phiên tòa là tự từ bỏ quyền tranh tụng của mình. Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến và yêu cầu khắc phục gì thêm về tố tụng.

Về nội dung: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của các đương sự có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa ông D và bà G đã trầm trọng thể hiện ở việc hai người sống ly thân gần 02 năm nay, tình cảm không thể hàn gắn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án căn cứ quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Ông D đồng ý giao 02 con chung là Tô Ngọc Bảo C, sinh ngày 17/6/2020 và Tô Trung S, sinh ngày 10/11/2022 cho bà G được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.500.000 đồng/ con/ tháng là tự nguyện nên ghi nhận. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

- Về tố tụng: Ông Tô Huỳnh Sơn D có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, việc vắng mặt của ông D không ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án. Bà Nguyễn Thị Ngọc G được triệu tập hợp lệ nhưng lần thứ 2 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

- Về quan hệ tranh chấp: Ông Tô Huỳnh Sơn D khởi kiện yêu cầu được ly hôn, tranh chấp về con chung với bà Nguyễn Thị Ngọc G, đây là tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Ngọc G là bị đơn hiện đang cư trú tại phường V, thành phố T nên Tòa án nhân dân thành phố Thuận An thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Tô Huỳnh Sơn D và bà Nguyễn Thị Ngọc G tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 99-2017 ngày 22/12/2017, đây là hôn nhân hợp pháp.

[3] Về mâu thuẫn vợ chồng: Theo trình bày của nguyên đơn, sau khi kết hôn, Ông D1 và bà G sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống dẫn đến cuộc sống gia đình không hòa hợp, thường xuyên xảy ra xung đột không tìm được tiếng nói chung, hai vợ chồng thường xuyên phát sinh cãi vã, sống không hạnh phúc; nhiều lần vợ chồng và gia đình hai bên tìm cách hòa giải, khuyên bảo, hàn gắn nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn trầm trọng nên ông D1 và bà G đã ly thân khoảng gần 02 năm nay, cả hai không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau và không còn khả năng hàn gắn để đoàn tụ nên yêu cầu được ly hôn.

Bà G cho rằng cuộc sống gia đình đang bình thường, thỉnh thoảng vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do áp lực công việc, khoảng gần 02 năm nay ông D1 hay đi làm xa và thường xuyên không về nhà. Tuy nhiên, những mâu thuẫn trên chỉ là mâu thuẫn nhỏ, hiện nay cuộc sống gia đình vẫn đang hạnh phúc, không có gì nghiêm trọng để phải ly hôn, bà G vẫn còn tình cảm với ông D1 và thương các con, muốn cùng ông D1 chăm lo gia đình và nuôi dạy các con ăn học nên không đồng ý ly hôn.

Theo kết quả xác minh tại địa phương và trình bày của các đương sự, có cơ sở xác định ông D1 và bà G đã sống ly thân gần 02 năm nay, ông D1 không còn quan tâm tới cuộc sống của bà G và các con, không có khả năng đoàn tụ.

[4] Xét thấy, mục đích hôn nhân giữa ông Tô Huỳnh Sơn D và bà Nguyễn Thị Ngọc G nhằm tạo lên một gia đình hòa thuận, hạnh phúc, vợ chồng yêu thương, giúp đỡ nhau, cùng nhau nuôi dạy con và phát triển kinh tế gia đình không đạt được, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, không còn tình cảm, ông Tô Huỳnh Sơn D yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc G là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

[5] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Theo trình bày của các đương sự, ông D và bà G sinh được 02 người con chung tên Tô Ngọc Bảo C, sinh ngày 17/6/2020 và Tô Trung S, sinh ngày 10/11/2022, các con hiện đang sống chung với bà G. Sau khi ly hôn, ông D đồng ý giao các con cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đồng thời tự nguyện cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.500.000 đồng/01 con/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Xét thấy, kể từ khi ông D và bà G sống ly thân, các con chung do bà G trực tiếp nuôi dưỡng nên việc ông D tự nguyện giao các con cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp và không gây ảnh hưởng đến cuộc sống của các con; Đồng thời, theo quy định tại Điều 69 của Luật Hôn nhân và gia đình, cha mẹ có nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc đối với con chưa thành niên. Ông D không sống chung với các con nên có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải, ông D tự nguyện cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.500.000 đồng/01 con/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi nên ghi nhận.

Ông Tô Huỳnh Sơn D không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[7] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[8] Về án phí: Ông D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, án phí về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các điều 68, 69, 70, 71, 72; 81, 82, 83 và Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Tô Huỳnh Sơn D đối với bị đơn - bà Nguyễn Thị Ngọc G về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Ông Tô Huỳnh Sơn D được ly hôn bà Nguyễn Thị Ngọc G.
    • - Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Tô Huỳnh Sơn D về việc giao cho bà Nguyễn Thị Ngọc G trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Tô Ngọc Bảo C, sinh ngày 17/6/2020 và Tô Trung S, sinh ngày 10/11/2022.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

    • - Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Tô Huỳnh Sơn D về việc cấp dưỡng nuôi các con chung là Tô Ngọc Bảo C, sinh ngày 17/6/2020 và Tô Trung S, sinh ngày 10/11/2022 số tiền 2.500.000 đồng/ 01 con/tháng, thực hiện từ tháng 04/2025 cho đến khi con đủ 18 tuổi.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án (Về cấp dưỡng nuôi con) có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện việc cấp dưỡng thì còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 trên số tiền và thời gian chậm thi hành án.

    • - Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
  2. Về án phí:

    Ông Tô Huỳnh Sơn D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0000571 ngày 03/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Ông Tô Huỳnh Sơn D còn phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

  3. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thuận An;
  • - Chi cục THADS Tp Thuận An;
  • - Chánh án;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Trọng Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 46/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, tranh chấp nuôi con Duy - Giàu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger