Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 10/12/2025.

V/v: “Ly hôn, chia tài sản chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Dư Thành Trung

Các Thẩm phán: Ông Đặng Ngọc Bình

Bà Nguyễn Thị Bích Thảo.

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Thuỳ Dung- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Ngô Hoàng Thanh Hải- Kiểm sát viên.

Ngày 10/12/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 35/2025/TLPT-HNGĐ ngày 04/11/2025, về việc “Ly hôn, chia tài sản chung”.

Do Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 08/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Lâm Đồng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 610/2025/QĐ-PT ngày 26/11/2025; giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1951.
  • Địa chỉ: Số D, đường N, phường X- Đ, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Tường N, sinh năm 1951
  • Địa chỉ: Số D, đường H, phường X- Đ, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • Chị Nguyễn Tường Quế P, sinh năm 1987; anh Ngô Minh N1, sinh năm 1985.
  • Địa chỉ: Số D, đường N, phường X- Đ, tỉnh Lâm Đồng; bà P có mặt, ông N1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Do kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tường N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Tường N đăng ký kết hôn năm 1986 tại Uỷ ban nhân dân (UBND) Phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn ông bà sống tại số B, đường P, Phường B, thành phố Đ là nhà của bố mẹ ruột bà M. Khoảng 05 năm sau ông bà về ở tại khu tập thể tại số E, đường C, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi khu tập thể giải toả thì ông bà về nhà của bố mẹ ông N ở được hơn 01 năm, đến năm 2005 ông bà mua chung cư ở, năm 2017 thì bán chung cư và về nhà con gái ở cho đến nay. Cuộc sống chung hạnh phúc đến năm 1989 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông N không lo làm ăn, ham mê chơi cờ bạc, không cùng bà lo kinh tế gia đình, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nhưng vì con cái còn nhỏ, phần vì do lớn tuổi mới lập gia đình mà ly hôn thì sợ xấu hổ với bạn bè nên bà cam chịu. Ông N thường xuyên vay nợ bên ngoài, bà khuyên nhủ nhưng ông N không thay đổi. Bà cũng đã làm đơn ly hôn nhưng vì ông N hứa thay đổi nên bà rút đơn về, đến nay ông N cũng vẫn chơi bài bạc, thậm chí còn mê hơn thời còn trẻ. Ông bà sống ly thân từ năm 2005 nhưng vẫn chung sống trong cùng một nhà, vợ chồng không còn tình cảm, không còn sự gắn bó, quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Hiện tại ông N đã chuyển về sống ở nhà từ đường tại đường H, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nay bà nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với ông N, cuộc cống chung không có hạnh phúc nên bà M yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Tường N.
  • - Về con chung: Bà Minh xác Đ vợ chồng có 01 người con chung là Nguyễn Tường Quế P, sinh ngày 10/11/1987. Hiện con chung đã thành niên, lập gia đình riêng nên không có yêu cầu gì về con chung.
  • - Về tài sản chung: Ông bà có mua một căn chung cư số 206, N, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Năm 2017 ông bà đã bán chung cư với giá 900.000.000đ. Số tiền này ông bà đã dùng để trả nợ và chi tiêu cho gia đình từ thời gian năm 2017 đến nay và hàng tháng bà còn phải đưa cho ông N 4.000.000đ để ông chi tiêu cá nhân nên không còn. Hiện tại ông bà không còn tài sản chung.
  • - Về nợ chung: Bà Minh xác Đ vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Theo đơn phản tố, đơn trình bày và quá trình tố tụng ông Nguyễn Tường N trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Tường N và bà Nguyễn Thị Minh đăng K kết hôn năm 1986 tại U, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn ông bà sống ở nhà bố mẹ của bà M một thời gian thì về sống tại khu tập thể, sau khi khu tập thể giải toả thì ông bà về nhà bố mẹ ruột của ông ở. Năm 2005, vợ chồng mua căn chung cư N, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống chung vợ chồng đến thời điểm hiện tại thì vẫn không có mâu thuẫn gì lớn. Bà M trình bày ông không lo làm ăn, chơi cờ bạc, không cùng bà lo kinh tế gia đình là không đúng. Từ ngày 01/7/2024, ông đã chuyển về ở nhờ nhà từ đường tại đường H, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng cho đến nay. Vợ chồng không còn khả năng hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên, bà M yêu cầu giải quyết ly hôn thì ông không đồng ý vì chưa giải quyết xong về tài sản chung. Ông chỉ đồng ý ly hôn khi chia tài sản chung xong.
  • - Về con chung: Ông N xác định vợ chồng có một con chung là Nguyễn Tường Quế P, sinh 10/11/1987. Hiện con chung đã thành niên, lập gia đình riêng nên ông không có yêu cầu gì về con chung.
  • - Về tài sản chung: Ông N xác định năm 2017 vợ chồng ông bán căn chung cư Nguyễn Lương B được số tiền 900.000.000đ, tiền vợ chồng ông bà tiết kiệm được 1.600.000.000đ. Ông bà đã dùng số tiền 2.500.000.000₫ góp chung với chị Nguyễn Tường Quế P (con gái) để mua tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đất tại Lô A, khu quy hoạch P- H, Phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng với giá 3.500.000.000đ. Khi góp tiền do là người trong gia đình, là bố mẹ với con cái nên không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh. Ly hôn, ông yêu cầu được nhận lại ½ giá trị tiền góp là 1.250.000.000₫.
  • - Về nợ chung: Ông N xác định vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Theo bản tự khai và quá trình tố tụng chị Nguyễn Tường Quế P trình bày:

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đất tại Lô A, khu quy hoạch P - H, Phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng là do chị và chồng là anh Nguyễn Minh N2 nhận chuyển nhượng từ ông Bùi Đình T, bà Lê Thị Mộng D. Giá chuyển nhượng là 3.650.000.000đ. Nguồn tiền là của vợ chồng anh chị và bố mẹ chồng cho. Phía bố mẹ của chị là bà M, ông N không đóng góp khoản tiền nào. Bố mẹ chị đều già yếu, không có thu nhập gì để có số tiền 2.500.000.000đ góp mua chung nhà với anh chị. Hàng tháng chị và chị gái còn phải cùng góp kinh tế để phụng dưỡng cha mẹ. Do đó, chị không đồng ý với yêu cầu chia số tiền 1.250.000.000đ của ông Nguyễn Tường N.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng không thành.

Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 11/2025/ HNGĐ-ST ngày 08/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Lâm Đồng đã xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị M. Bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Tường N được ly hôn với nhau.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Tường N. Buộc bà Nguyễn Thị M có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Tường N số tiền 125.669.856đ (một trăm hai mươi lăm triệu sáu trăm sáu mươi chín nghìn tám trăm năm mươi sáu đồng).
  3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tường N về việc được nhận số tiền 1.250.000.000đ (một tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng) tiền góp mua chung nhà đất tại lô A, KQH P- H, Phường F, thành phố Đ (nay là phường C - Đ), tỉnh Lâm Đồng.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo.

Ngày 19/8/2025, ông Nguyễn Tường N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân khu vực 1- Lâm Đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Nguyễn Tường N thay đổi kháng cáo chỉ kháng cáo một phần bản án về yêu cầu chia tài sản chung.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Tường Quế P đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông N; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã nêu lên lập luận, cơ sở pháp lý cho rằng kháng cáo của ông N là không có cơ sở nên căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông N; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến trình bày của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ “Ly hôn, chia tài sản chung” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn Nguyễn Tường N thấy rằng:

[2.1] Đơn kháng cáo, thủ tục kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2.2] Về nội dung kháng cáo:

Theo ông N trình bày vợ chồng ông bán chung cư ở đường N, phường X- Đ được 900.000.000đ, tiền vợ chồng ông bà tiết kiệm được 1,6 tỷ. Tổng cộng tài sản chung là 2.500.000.000đ và góp chung với con gái là chị Nguyễn Tường Quế P để mua tài sản tại lô A2, khu Q - H, phường C- Đ, tỉnh Lâm Đồng với giá 3.500.000.000đ. Sau đó vợ chồng con gái ông bán căn nhà trên được 9.000.000.000. Ông N đề nghị ly hôn thì được nhận lại ½ giá trị tiền góp là 1.250.000.000₫.

Qua xem xét thấy rằng: Theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 05/9/2017 đối với thửa 656 (lô A2), TBĐ 10 tọa lạc tại lô A, KQH P - H, phường C- Đ (Phường F, thành phố Đ cũ), tỉnh Lâm Đồng giữa bên chuyển nhượng là ông Bùi Đình T, bà Lý Mộng D1 và bên nhận chuyển nhượng là anh Ngô Minh N1, chị Nguyễn Tường Quế P. Đến ngày 06/11/2017, anh N1, chị P đã được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH 551835.

Ông N cho rằng ông và bà M có góp chung số tiền 2.500.000.000đ để cùng chị P, anh N1 mua nhà đất nêu trên nhưng ông N không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ và hợp pháp trong khi đó vợ chồng chị Nguyễn Tường Quế P, anh Ngô Minh N1 cũng như bà Nguyễn Thị M đều không thừa nhận có việc góp tiền mua chung tài sản này. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tường N về việc được nhận số tiền 1.250.000.000đ tiền góp mua chung nhà đất tại lô A, KQH P- H, Phường F, thành phố Đ (nay là phường C - Đ), tỉnh Lâm Đồng là có căn cứ.

Ngoài ra, theo Công văn số 103/CV-SHBLĐ ngày 09/4/2025 của Ngân hàng Thương mại cổ phần S (S1) (BL 121) thể hiện bà Nguyễn Thị M có gửi tiết kiệm số tiền 51.339.712đ theo tài khoản số 41179894410 ngày phát hành 10/5/2024. Số tiền gửi tiết kiệm này là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân và bà M cũng đồng ý chia ½ số tiền này cho ông N. Toà án cấp sơ thẩm chia cho ông N ½ số tiền này là có căn cứ.

Tại cấp sơ thẩm, bà M cũng thừa nhận số tiền bán chung cư của hai vợ chồng, bà M cho cháu của bà mượn 200.000.000đ, bà đồng ý trả lại cho ông N 100.000.000đ và ông N cũng đồng ý. Toà án cấp sơ thẩm ghi nhận và buộc bà M thanh toán cho ông N ½ số tiền này là có căn cứ.

[3] Tại phiên tòa hôm nay, ông N không xuất trình được tài liệu, chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị đơn, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp và đúng quy định pháp luật.

[4] Về án phí: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1951; ông Nguyễn Tường N, sinh năm 1951 thuộc trường hợp “Người cao tuổi” theo Điều 2 Luật người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí ngày 08/10/2024 và ngày 25/02/2025 nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tường N. Giữ nguyên Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 08 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Lâm Đồng.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị M. Bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Tường N được ly hôn với nhau.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Tường N. Buộc bà Nguyễn Thị M có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Tường N số tiền 125.669.856 đồng (một trăm hai mươi lăm triệu sáu trăm sáu mươi chín nghìn tám trăm năm mươi sáu đồng).
  3. “Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự”.

  4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tường N về việc được nhận số tiền 1.250.000.000đ (một tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng) tiền góp mua chung nhà đất tại lô A, KQH P- H, phường F, thành phố Đ (nay là phường C- Đ), tỉnh Lâm Đồng.
  5. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị M.
  6. Miễn toàn bộ án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm cho ông Nguyễn Tường N.

  7. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Phòng GĐ, KT, TTr & THA (01);
  • - TAND khu vực 1- Lâm Đồng (01);
  • - THADS tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Đương sự (4);
  • - Lưu án văn; hồ sơ vụ án (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Dư Thành Trung

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HNGĐ-PT ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn, chia tài sản chung

  • Số bản án: 46/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, chia tài sản chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, chia tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger