|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2025/HNGĐ-PT Ngày: 09/12/2025 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tuyết Mai.
Các Thẩm phán: Bà Vương Thị Hà
Ông Nguyễn Trung Thông
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Huyền- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 71/2025/TLPT-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 03/2025/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 71/2025/QĐ-PT ngày 19 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Vũ Khắc B, sinh năm 1981; Địa chỉ: Khu phố N, phường T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt;
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1985; Địa chỉ: Số nhà A, dãy G, ngõ E, phố M, phường V, thành phố Hà Nội. Có mặt;
Bị đơn: Chị Vũ Thị D, sinh năm 1983; Địa chỉ: Khu phố N, phường T, tỉnh Bắc Ninh. Xin vắng mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị D: Luật sư Nguyễn Kiên C, Văn phòng Luật sư Vũ Tuấn N và đồng nghiệp, Đoàn Luật sư thành phố H; Địa chỉ: P, Tòa nhà B, số F H, phường N, thành phố Hà Nội. Có mặt;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Vũ Khắc H, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1957 do ông Nguyễn Khắc H1 đại diện; Địa chỉ: Khu phố N, phường T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt;
- Bà Nguyễn Thị Như H2, sinh năm 1976 và ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1975 do bà Nguyễn Thị Như H2 đại diện; Địa chỉ: Khu phố N, phường T, tỉnh Bắc Ninh. Xin vắng mặt;
- Anh Vũ Đức T1, sinh năm 1986 và chị Lưu Thị Thanh D1, sinh năm 1988 do anh Vũ Đức T1 đại diện; Địa chỉ: Khu phố N, phường T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt;
- Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Bắc Ninh.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng và là đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu B1 - Chủ tịch. Xin vắng mặt;
Người kháng cáo: Nguyên đơn là anh Vũ Khắc B và bị đơn là chị Vũ Thị D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án như sau:
*Nguyên đơn anh Vũ Khắc B trình bày: Anh kết hôn với chị D ngày 19/12/2003, có được tìm hiểu, tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã T (nay là phường T). Cưới xong chị D nhà anh làm ăn ngay, vợ chồng ở riêng tại nhà đất của bố mẹ anh.
Quá trình chung sống, vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2016-2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai vợ chồng mở quán Game để kinh doanh và phải có người trực đêm. Anh đi làm cả ngày, đến tối về trông quán nhưng chị D thường xuyên hậm hực, không hài lòng nên vợ chồng phải bán quán. Anh làm nghề xây dựng và thuê thợ làm, mỗi lần thợ của anh về nhà thì chị D khó chịu nên thợ không làm cho anh nữa. Chị D cũng không quan tâm hỏi han bố mẹ anh mỗi khi ốm đau. Anh đã nói chuyện, khuyên bảo nhưng chị D không thay đổi. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng nguội lạnh, không có tiếng nói chung. Mặc dù vợ chồng sống chung nhà nhưng ăn riêng, ngủ riêng, mỗi người một tầng, không nói chuyện, không quan tâm đến nhau từ đầu năm 2023 đến nay. Anh xác định không thể tiếp tục chung sống với chị D nên anh đề nghị được ly hôn.
- Con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Vũ Thùy D2, sinh ngày 23/7/2004 và Vũ Minh Q, sinh ngày 03/7/2007. Hiện các con chung đã trưởng thành anh không đề cập nuôi dưỡng.
- Tài sản chung: Sau khi cưới, bố mẹ anh cho vợ chồng ra ở riêng tại thửa đất số 186, tờ bản đồ 16, diện tích 445m² tại N, T, Bắc Ninh từ năm 2004 (viết tắt là thửa đất số 186). Nguồn gốc đất là của bố mẹ anh mua từ lâu, trên đất có 01 ngôi nhà trần 1 tầng. Năm 2006, vợ chồng xây lên tầng 2 lợp tôn. Thửa đất đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) mang tên hộ ông Vũ Khắc B ngày 26/7/2012.
Năm 2022, vợ chồng phá ngôi nhà 2 tầng xây trên thửa đất số 186 và xây 01 ngôi nhà 2,5 tầng, diện tích sàn khoảng 150m², tổng diện tích xây dựng khoảng 450m². Năm 2020, vợ chồng mua 01 xe môtô Honda SH, BKS: 99F1-533.58 đăng ký tên chị D.
Nay ly hôn anh không yêu cầu Tòa án chia tài sản chung. Chị D yêu cầu chia thửa đất số 186 thì anh không đồng ý vì thửa đất số 186 là của bố mẹ anh. Anh chỉ đồng ý chia ngôi nhà, các tài sản trên đất và chiếc xe mô tô.
Tòa án đã thông báo cho anh kết quả đo đạc, thẩm định tại chỗ thì thửa đất số 186 của vợ chồng anh có xây lấn sang thửa đất số 110 của tập thể do UBND phường T quản lý diện tích 88m² và thửa đất 186 bị thửa đất 187 của vợ chồng anh T1, chị D2 xây lấn diện tích 42,8m². Tuy nhiên, anh không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này. Sau này, UBND phường T yêu cầu anh tháo dỡ công trình xây lấn sang thửa đất 110 thì anh cũng đồng ý tháo dỡ.
- Về công nợ: Năm 2022, vợ chồng có vay của bà Nguyễn Thị Như H2 số tiền 400.000.000đ để làm nhà, hiện chưa trả, anh đề nghị mỗi người phải trả ½ số nợ trên.
*Bị đơn là chị Vũ Thị D trình bày: Chị thừa nhận lời trình bày của anh B về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn là đúng. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận đến tháng 6/2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh B thường xuyên đi chơi với anh em bạn bè, lúc thì đánh bạc, lúc thì tụ tập đàn đúm hát Karaoke, không quan tâm đến gia đình, vợ con, nhiều lần anh B đi chơi về muộn, có hôm còn đi qua đêm. Vợ chồng mới xây nhà xong vẫn còn nợ thì anh B không tu chí làm ăn để trả nợ, một mình chị đi làm kiếm tiền trả lãi hàng tháng, làm việc nhà và chăm sóc con chung. Đầu năm 2024, anh B thường xuyên đi qua đêm, có hôm đi mấy ngày không về, chị nghe dư luận nói anh B có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ làm gái quán hát karaoke. Chị và hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh B không thay đổi. Vợ chồng ở chung nhà nhưng mỗi người ở một phòng, chị nấu cơm nhưng anh B không ăn, vợ chồng không nói chuyện và sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Chị xác định không thể tiếp tục chung sống với anh B được vì vợ chồng không còn tình cảm nên chị đồng ý ly hôn.
- Con chung: Vợ chồng có 02 con chung như anh B trình bày. Hiện 2 con đã trưởng thành nên chị không đề nghị giải quyết.
- Tài sản chung: Cưới xong bố mẹ chồng cho vợ chồng ra ở riêng tại thửa đất số 186. Nguồn gốc đất là của bố mẹ chồng cho vợ chồng, trên đất có 01 ngôi nhà trần 1 tầng và công trình phụ. Năm 2006, vợ chồng tân đất và xây tầng 2 lợp tôn. Thửa đất đã được cấp GCNQSDĐ ngày 26/7/2012 mang tên hộ anh Vũ Khắc B. Năm 2022, vợ chồng phá ngôi nhà 2 tầng để xây 01 ngôi nhà 03 tầng, diện tích 1 sàn khoảng 140m², lát sân, làm lán lợp tôn, xây cổng và xây tường bao quanh trên thửa đất số 186. Năm 2020, vợ chồng mua 01 xe môtô Honda SH Mode, BKS: 99F1-533.58 đăng ký tên chị. Quá trình tạo dựng tài sản chung các con còn nhỏ lại đang đi học nên không có công sức đóng góp gì vào khối tài sản chung của vợ chồng.
Nay ly hôn chị yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng là thửa đất số 186, ngôi nhà 3 tầng cùng công trình trên đất và 01 xe mô tô Honda SH Mode, BKS: 99F1-533.58 theo quy định của pháp luật, chị đồng ý để anh B sử dụng đất, chị đề nghị được nhận tiền.
Tòa án đã thông báo cho chị kết quả đo đạc, thẩm định tại chỗ thì thửa đất số 186 của vợ chồng chị có xây lấn sang thửa đất số 110 của tập thể do UBND phường T quản lý diện tích 88m² và thửa đất 186 của vợ chồng chị bị thửa đất 187 của vợ chồng anh T1, chị D2 xây lấn diện tích 42,8m². Chị không yêu cầu giải quyết đối với diện tích 42,8m² do vợ chồng anh T1, chị D2 lấn. Đối với 88m² khi nào UBND phường T yêu cầu tháo dỡ công trình xây lấn sang thửa đất 110 thì chị cũng đồng ý tháo dỡ.
- Về công nợ: Năm 2022, vợ chồng có vay của dì ruột chị là bà Nguyễn Thị Như H2 số tiền 400.000.000đ để làm nhà. Khi vay có giấy tờ do anh B ký, lãi suất 0,8%/tháng, vay không thời hạn, hiện chưa trả. Nay chị đề nghị mỗi người phải trả ½ số nợ trên.
*Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
1. Ông Vũ Khắc H, bà Nguyễn Thị S do ông H đại diện trình bày: Anh B, chị D kết hôn năm 2003. Năm 2004, vợ chồng ra ở riêng ông cho anh thửa đất diện tích 359m², trên đất có 01 ngôi nhà 1 tầng mái bằng diện tích khoảng 50m² và công trình phụ, đã được cấp sổ đỏ tên anh B năm 2004. Sau đó vợ chồng xây thêm tầng 2, đến năm 2012, ông cho anh B thêm 86m², tổng là 445m². Năm 2021 vợ chồng phá ngôi nhà 2 tầng để xây ngôi nhà 03 tầng trên đất và các công trình trên đất.
Nay chị D yêu cầu chia thửa đất số 186, thì ông không đồng ý vì thửa đất số 186 là của vợ chồng ông mua. Chị D yêu cầu chia ngôi nhà 3 tầng cùng các tài sản trên đất và 01 xe mô tô thì ông không có ý kiến gì.
2. Bà Nguyễn Thị Như H2 và ông Nguyễn Văn G do bà H2 đại diện trình bày: Bà là dì ruột chị D. Ngày 21/4/2023, bà cho anh B, chị D vay 400.000.000đ để làm nhà, giấy vay do anh B ký, lãi suất là 1%/ tháng, thời hạn vay là 5 năm, mỗi tháng chị D trả 4.000.000đ tiền lãi.
Nay vợ chồng ly hôn, bà yêu cầu anh B, chị D phải có nghĩa vụ trả cho vợ chồng bà số tiền 400.000.000đ, bà không yêu cầu trả lãi.
3. Anh Vũ Đức T1 và chị Lưu Thị Thanh D1 do anh T1 đại diện trình bày: Năm 1992, bố anh là Vũ Khắc H mua của địa phương thửa đất 119, tờ bản đồ 16, diện tích 1.715,1m². Ngày 06/6/2012, bố anh đã tặng cho anh một phần của thửa đất 119 là 389m²; đất đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ ngày 26/7/2012 là thửa số 187, tờ bản đồ 16, diện tích 389m² mang tên anh. Hiện vợ chồng anh đang sinh sống trên thửa đất số 187.
Tòa án đã cho anh xem bản trích đo hiện trạng thửa đất số 186 của anh B thì thấy: Giáp thửa đất của anh về hướng Bắc là thửa đất số 186 của anh B. Thửa đất số 187 của anh có lấn sang thửa 186 của anh B diện tích 42,8m². Vợ chồng anh có xây ngôi nhà 02 tầng sang một phần của thửa đất số 186. Nay vợ chồng anh B ly hôn nhưng anh B, chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với 42,8m² do anh lấn thì anh cũng đồng ý.
4. Đại diện UBND phường T trình bày: Thửa đất số 110, tờ bản đồ 16, diện tích 274m² là đất của tập thể do UBND phường T quản lý. Giáp thửa đất số 10 về hướng Nam là thửa đất số 186 là đất của anh B, chị D. Năm 2022 anh B, chị D xây ngôi nhà 3 tầng lấn sang thửa đất của tập thể là 5,5m², xây tường gạch bao quanh lấn ra thửa đất của tập thể là 82,5m², tổng cộng anh B, chị D lấn 88m² (đất quy hoạch đường giao thông). UBND phường không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết đối với 88m² này.
UBND phường sẽ yêu cầu anh B, chị D phải tự giác tháo dỡ công trình xây dựng lấn chiếm trên đất của tập thể. Trường hợp anh B, chị D không tự giác tháo dỡ sẽ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế tháo dỡ sau.
Với nội dung trên, Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 22/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh đã: Căn cứ điều 51, 56, 59, 62, 63 Luật hôn nhân gia đình; điều 235, 264, 266, 147, 157, 165, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án; xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Vũ Khắc B và chị Vũ Thị D.
- Về con chung: Các con đã trưởng thành, không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ: Xác nhận thửa đất số 186, tờ bản đồ 16, diện tích 445m²; 01 ngôi nhà 3 tầng và các công trình trên thửa đất số 186 tại khu phố N, phường T, tỉnh Bắc Ninh; 01 xe mô tô SH Mode 99F1-533.58 là tài sản chung của anh Vũ Khắc B và chị Vũ Thị D, tổng trị giá 11.165.404.000đ.
Giao cho anh Vũ Khắc B được quyền sử dụng thửa đất số 186, tờ bản đồ 16, diện tích 445m², được sở hữu 01 ngôi nhà 3 tầng và các công trình trên thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa 110, phía Nam giáp thửa 187 của anh T1, phía Đông giáp thửa 120 của ông V, phía Tây giáp đường bê tông tại khu phố N, phường T, tỉnh Bắc Ninh. Tổng giá trị anh B được hưởng là 6.272.702.000đ.
Anh B phải có nghĩa vụ trả nợ bà Nguyễn Thị Như H2, ông Nguyễn Văn G số tiền 400.000.000đ.
Anh B phải có nghĩa vụ trích trả chênh lệch tài sản cho chị Duyên số tiền 4.457.702.000₫.
Chị D được sở hữu 01 xe mô tô SH Mode 99F1-533.58 và nhận số tiền 4.457.702.000₫ do anh B trích trả.
Chị D được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ thi hành án, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 04/8/2025, anh Vũ Khắc B kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án cấp phúc thẩm, anh đề nghị hủy bản án sơ thẩm; chị Vũ Thị D kháng cáo về phần tài sản, chị đề nghị được chia 50% giá trị đất.
Ngày 27/11/2025, chị Vũ Thị D có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không hòa giải được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh Nguyễn Thanh T trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm trong việc chứng thực chữ ký; khi định giá tài sản đã áp dụng giá bồi thường giải phóng mặt bằng để tính giá trị tài sản là không đúng; thửa đất số 186 là tài sản riêng của anh B không phải là của hộ gia đình, việc ghi hộ gia đình trong giấy chứng nhận là do cơ quan cấp giấy sai sót, anh T nghe nói đã có văn bản đính chính về việc việc này nhưng anh T chưa có tài liệu về việc đính chính để nộp cho tòa án. Đề nghị tòa án xem xét việc định giá tại cấp sơ thẩm, việc cấp giấy chứng nhận cho hộ anh B và hủy án sơ thẩm.
Luật sư Nguyễn Kiên C bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày: Thửa đất số 186 có nguồn gốc là của gia đình ông H2 và bà S. Năm 2004, đã cho anh B 389m² anh B đã được cấp giấy chứng nhận mang tên anh B. Năm 2012, ông H2 và bà S cho thêm anh B 86m², sau khi nhập 2 thửa đất anh B là người kê khai thủ tục để cấp giấy chứng nhận mang tên hộ gia đình. Do đó, thửa đất số 186 là tài sản chung của hộ gia đình. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho chị D đề nghị tòa án giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đảm bảo đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đảm bảo thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dụng kháng cáo của chị Vũ Thị D; chấp nhận một phần kháng cáo của anh Vũ Khắc B, sửa bản án sơ thẩm về phần diện tích thửa đất số 186 và giá trị tài sản chung của anh B và chị D. Án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của anh Vũ Khắc B trong thời hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Ngày 27/11/2025, chị Vũ Thị D có đơn xin rút yêu cầu kháng cáo.
Xét thấy, việc rút kháng cáo của chị D là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Do vậy, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của chị D.
[2] Xét kháng cáo của anh Vũ Khắc B, Hội đồng xét xử thấy:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Khắc B kết hôn với chị Vũ Thị D năm 2003, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nay cả hai bên đều đề nghị ly hôn. Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý giải quyết và công nhận việc thuận tình ly hôn của anh B và chị D là có căn cứ.
- Về con chung: Do các con đã trưởng thành nên bản án sơ thẩm không giải quyết là phù hợp.
- Về tài sản chung: Thửa 119, tờ bản đồ 16, diện tích 1.715,1m² (viết tắt là thửa đất số 119) là do vợ chồng ông Vũ Khắc H, bà Nguyễn Thị S mua của thôn N từ năm 1992. Thửa đất đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ ngày 22/12/1998 cho hộ ông Vũ Khắc H.Ngày 12/10/2004, ông H và các thành viên trong gia đình đã chuyển quyền sử dụng một phần thửa đất số 119 cho anh Vũ Khắc B là 359m² cùng 01 ngôi nhà trần đã cũ và các công trình trên đất. Anh B đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ ngày 21/10/2004 tên anh Vũ Khắc B. Vợ chồng đã tân tạo đất và năm 2006 xây thêm tầng 2 lợp tôn.Ngày 06/6/2012, gia đình ông H tặng cho anh B một phần thửa đất số 119 là 86m². Anh B đã làm thủ tục đăng ký QSDĐ, ngày 26/7/2012 UBND huyện T cấp GCNQSDĐ cho hộ anh Vũ Khắc B thửa đất số 186, tờ bản đồ 16, diện tích 445m². Năm 2022, vợ chồng phá ngôi nhà 2 tầng để xây ngôi nhà 3 tầng, 01 lán lợp tôn, lát gạch, trụ cổng và tường bao quanh thửa đất.Toàn bộ nội dung trên được ông H, anh B và chị D thừa nhận nên được coi là chứng cứ theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và không phải chứng minh.
Như vậy, thửa đất số 186 có nguồn gốc của gia đình ông H, năm 2004 tặng cho riêng anh B 359m² và ngày 06/6/2012 tặng thêm cho anh B là 86m² nên tổng diện tích được tặng cho là 445m². Quá trình sử dụng đất anh B đã kê khai và làm thủ tục cấp GCNQSDĐ chuyển từ tên anh Vũ Khắc B sang tên hộ gia đình anh Vũ Khắc B. Bằng việc chuyển tên trong GCNQSDĐ này, anh B đã chuyển từ tài sản riêng của mình thành tài sản chung của hộ gia đình và việc chuyển quyền này là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối hay ép buộc. Do đó, GCNQSDĐ ngày 26/7/2012 của UBND huyện T cấp cho hộ anh Vũ Khắc B là hợp pháp.
Từ năm 2004 đến nay, vợ chồng anh B đã quản lý sử dụng thửa đất, vợ chồng hai lần xây nhà và công trình kiên cố trên đất mà gia đình ông H sống gần đó không phản đối. Bản án sơ thẩm xét thấy mặc dù Hợp đồng tặng cho QSDĐ ngày 06/6/2012 thể hiện gia đình ông H tặng cho anh B nhưng căn cứ vào trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ và quá trình sử dụng đất, đã xác định thửa đất số186 là tài sản chung của anh B, chị D là có căn cứ.
Đối với các tài sản là ngôi nhà 3 tầng, các công trình có trên đất và 01 xe mô tô Honda SH Mode, quá trình tạo dựng tài sản chung cháu D1, cháu Q đều trình bày không có công sức, tiền đóng góp vào khối tài sản chung của vợ chồng và không có yêu cầu gì nên cấp sơ thẩm không xem xét là phù hợp.
Khi đo đạc hiện trạng thửa đất số 186 xác định: Thửa đất số 187 của vợ chồng anh Vũ Đức T1, chị Lưu Thị Thanh D1 chồng lấn sang thửa 186 của anh B, chị D là 42,8m². Chị D không yêu cầu giải quyết đối với diện tích 42,8m² do vợ chồng anh T1, chị D1 lấn nên bản án sơ thẩm không xem xét là phù hợp.
Quá trình xem xét thẩm định thửa đất 186 xác định: Diện tích thực tế là 494,7m², trong đó lấn sang thửa đất 110 là 88m² (phần đất này do UBND phường T quản lý) nên diện tích thực tế còn là 494,7m² - 88m² = 406,7m². Bản án sơ thẩm tính giá trị tài sản theo diện tích 445m² trong GCNQSDĐ là chưa đảm bảo quyền lợi cho anh B. Vì vậy, cần sửa bản án sơ thẩm và xác định giá trị tài sản theo diện tích đất thực tế vợ chồng sử dụng là 406,7m², cụ thể: 406,7m² x 20.000.000đ/m² = 8.134.000.000₫.
Do thửa đất số 186 có nguồn gốc của bố mẹ anh B nên bản án sơ thẩm đã chia cho anh B 60% giá trị thửa đất, chia cho chị D 40% giá trị thửa đất là có căn cứ.
Như vậy, anh B được chia là: 8.134.000.000₫ x 60% = 4.880.400.000đ, chị D được chia là: 8.134.000.000₫ x 40% = 3.253.600.000₫.
Đối với tài sản trên thửa đất số 186 và chiếc xe mô tô Honda SH Mode là do vợ chồng tạo dựng được trong thời gian chung sống nên đã chia cho mỗi người được hưởng ½ giá trị tài sản cũng là phù hợp. Cụ thể: Ngôi nhà = 2.127.231.000₫, các công trình xây trên thửa đất = 103.173.000đ, xe mô tô Honda SH Mode = 35.000.000đ. Tổng giá trị là: 2.265.404.000đ nên anh B, chị D mỗi người được chia là: 2.265.404.000đ : 2 = 1.132.702.000đ. Như vậy, tổng giá trị tài sản:
Anh B được chia là: 4.880.400.000đ + 1.132.702.000₫ = 6.013.102.000₫
Chị D được chia là: 3.253.600.000đ + 1.132.702.000đ = 4.386.302.000đ.
Theo bản trích đo hiện trạng thì thửa đất số 186 có 01 ngôi nhà 3 tầng xây kiên cố giữa thửa đất nên không thể chia bằng hiện vật, chị D cũng có nguyện vọng nhận tiền. Vì vậy, cấp sơ thẩm đã giao cho anh B được sử dụng thửa đất số 186, được sở hữu ngôi nhà 3 tầng và các công trình trên đất, giao cho chị D được sở hữu 01 xe mô tô Honda SH Mode, BKS: 99F1-533.58 là phù hợp.
Sau khi ly hôn, chị D cần tạo dựng nơi ở mới. Cấp sơ thẩm xét thấy hiện chị D đang có khó khăn về chỗ ở nên đã cho chị D được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt theo quy định tại điều 63 Luật Hôn nhân và gia đình là có căn cứ.
- Về công nợ: Theo hợp đồng vay tiền ngày 21/4/2023 thì anh B vay bà H 400.000.000đ để làm nhà. Bà H yêu cầu vợ chồng trả nợ và anh B, chị D cũng đồng ý. Vì vậy, xác định khoản vay 400.000.000₫ là nợ chung vợ chồng nên mỗi người phải trả nợ là 200.000.000đ. Bản án sơ thẩm đã buộc anh B trả bà H 400.000.000đ nên số tiền 200.000.000đ chị D phải trả bà H sẽ được đối trừ vào tiền trích chia tài sản của anh B trả chị D.
- Đối với đề nghị hủy án sơ thẩm của đại diện nguyên đơn:
+ Về định giá tài sản: Việc định giá tài sản được thực hiện bởi Hội đồng định giá do Tòa án cấp sơ thẩm thành lập. Hội đồng định giá đã căn cứ các văn bản chuyên ngành và của tỉnh để định giá tài sản là đúng quy định. Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn không đưa ra quan điểm về giá đất mà Hội đồng định giá áp dụng là cao hay thấp so với giá thị trường và cũng không yêu cầu định giá lại. Do đó, không có căn cứ xác định việc định giá của Hội đồng định giá là vi phạm như lời trình bày của đại diện nguyên đơn.
+ Việc đối chiếu, chứng thực chữ ký các tài liệu khi đương sự nộp tại tòa án của cấp sơ thẩm là không đúng quy định nhưng đại diện nguyên đơn không đưa ra căn cứ chứng minh. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận đề nghị hủy án sơ thẩm của đại diện nguyên đơn.
Từ những phân tích trên, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm về tài sản chung.
[4] Án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh Vũ Khắc B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Chị Vũ Thị D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Các đương sự phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với giá trị tài sản được chia theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 148, điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự:
- Chấp nhận việc rút đơn kháng cáo của chị Vũ Thị D, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của chị Vũ Thị D.
- Chấp nhận một phần kháng cáo của anh Vũ Khắc B, sửa bản án sơ thẩm.
- Áp dụng các Điều 51, 56, 59, 62, 63 Luật hôn nhân gia đình; điều 235, 264, 266, 147, 157, 165, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án; xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận việc thuận tình ly hôn của anh Vũ Khắc B và chị Vũ Thị D.
- Con chung: Các con đã trưởng thành nên không giải quyết.
- Tài sản chung và công nợ: Xác nhận thửa đất số 186, tờ bản đồ 16, diện tích 406,7m²; 01 ngôi nhà 3 tầng và các công trình trên thửa đất số 186 tại khu phố N, phường T, tỉnh Bắc Ninh; 01 xe mô tô SH Mode 99F1-533.58 là tài sản chung của anh Vũ Khắc B và chị Vũ Thị D, tổng trị giá tài sản là 10.399.404.000đ.
Giao cho anh Vũ Khắc B được quyền sử dụng thửa đất số 186, tờ bản đồ 16, diện tích 406,7m², được sở hữu 01 ngôi nhà 3 tầng và các công trình trên thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa 110, phía Nam giáp thửa 187 của anh T1, phía Đông giáp thửa 120 của ông V, phía Tây giáp đường bê tông tại khu phố N, phường T, tỉnh Bắc Ninh. Tổng giá trị anh B được hưởng là 6.248.102.000đ.
Anh B trả nợ bà Nguyễn Thị Như H2, ông Nguyễn Văn G là 400.000.000₫ (Bốn trăm triệu đồng).
Anh B trích trả chênh lệch tài sản cho chị D là 4.151.302.000đ.
Chị D được sở hữu 01 xe mô tô SH Mode 99F1-533.58 và nhận số tiền 4.151.302.000₫ (Bốn tỷ một trăm năm mươi mốt triệu ba trăm linh hai nghìn đồng) do anh B trích trả.
Chị D được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất đối với số tiền chưa thi hành án theo quy định tại điều 357 và điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30, Luật thi hành án dân sự.
- Chi phí tố tụng: Anh Vũ Khắc B và chị Vũ Thị D mỗi người phải chịu 5.650.000 đồng chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản. (Xác nhận chị D đã nộp 11.300.000 đồng, anh B phải trả cho chị D 5.650.000 đồng).
- Án phí: Anh Vũ Khắc B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Anh Vũ Khắc B phải chịu 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 114.013.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận anh B đã nộp 600.000 đồng tạm ứng án phí tại các biên lai số 0001592 ngày 26/12/2024 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 - Bắc Ninh và số 0003828 ngày 04/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Anh B còn phải nộp tiếp 113.563.000 đồng án phí.
Chị Vũ Thị D phải chịu 150.000đ án phí dân sự phúc thẩm, 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 112.386.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị D đã nộp 57.290.000 đồng tạm ứng án phí tại các biên lai số 0001650 ngày 18/02/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 9 - Bắc Ninh và số 0003843 ngày 07/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Chị D còn phải nộp tiếp 55.396.000 đồng án phí.
Bà Nguyễn Thị Như H2, ông Nguyễn Văn G không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà H2, ông G 10.000.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai số 0001689, ngày 14/3/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 9 - Bắc Ninh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tuyết Mai |
Bản án số 46/2025/HNGĐ-PT ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 46/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Vũ Khắc B tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung với chị Vũ Thị D
