Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHƯỚC LONG

TỈNH BẠC LIÊU

Bản án số: 46/2025/DS-ST

Ngày 27/5/2025

V/v tranh chấp hợp đồng

đặt cọc.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Quách Thanh Tồn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Phước;
  2. Ông Trần Thanh Tuấn.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Loan – Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 419/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2025/QĐXX-ST ngày 21 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 102 ngày 08/5/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Vũ Phước H, sinh năm 1992;

    Địa chỉ: ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang;

    Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Hồ Thanh P, sinh năm 1979.

    Địa chỉ: số B, Khu V, Phường A. Quận N, Thành phố Cần Thơ.

  2. Bị đơn: Ông Lê Văn P1, sinh năm 1992.

    Địa chỉ: ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

    Ông P có đơn xin vắng mặt; ông P1 vắng mặt lần 2 tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, ông Hồ Thanh P có lời khai trình bày: Vào ngày 20/4/2024 ông H có cử người đại diện giao dịch mua lúa với ông Lê Văn P1, các bên giao dịch hợp đồng miệng, không lập thành văn bản, theo đó ông H đã chuyển cho ông P1 tổng số tiền đặt cọc 60.000.000 đồng đề mua 220 tấn lúa. Đến ngày 05/5/2024 thì các bên đã tất toán xong và tiếp tục giao dịch hợp đồng miệng, không lập thành văn bản; qua đó ông H đã chuyển tiền đặt cọc cho ông P1 80.000.000 đồng qua số tài khoản của ông P1 để mua 400 tấn lúa, với giá 8.400 đồng/ 1 kg, với tổng giá trị hợp đồng là 3.360.000.000 đồng. Đến ngày 10/5/2024 ông P1 đã giao cho người đại diện của ông H khoản 166 tấn lúa trị giá 1.394.400.000 đồng, còn lại 234 tấn lúa trị giá 1.965.600 đồng đã quá thời hạn giao kết nhưng ông P1 không giao, cắt mọi liên lạc với ông H; đồng thời ông P1 còn giữ, chiếm dụng tổng số tiền đặt cọc là 179.835.000 đồng của ông H, có viết giấy tay “Tờ cam kết nợ” hứa hẹn ngày 20/5/2024 hoàn trả 100.000.000 đồng, ngày 25/5/2024 trả phần còn lại là 79.835.000 đồng, nhưng cho đến nay ông P1 không thực hiện nghĩa vụ trả tiền, cắt mọi liên lạc với ông H, vì vậy ông H phải bồi thường cho bên thứ ba do không giao lúa đúng thời hạn, vi phạm hợp đồng số tiền 157.248.000 đồng. Nay ông H yêu cầu ông P1 phải trả, bồi thường tổng số tiền 537.898.750 đồng (trong đó tiền bồi thường đặt cọc 359.670.000 đồng, tiền lãi chậm trả 07 tháng (tính đến ngày 20/01/2025) bằng số tiền 20.980.750 đồng, yêu cầu bồi thường thiệt hại do tổn thất từ việc vi phạm hợp đồng bằng số tiền 157.248.000 đồng.

Bị đơn ông Lê Văn P1 có lời khai xác định: Cá nhân ông với cá nhân ông Vũ Phước H bắt đầu quen biết từ năm 2023 ( ông H là người mua lúa, ông làm cò lúa); đến năm 2024 ông với ông H bắt đầu thoả thuận bằng miệng là ông sẽ làm cò lúa, còn ông H là người mua lúa, cụ thể: ông là người trực tiếp thoả thuận việc mua lúa, giá lúa với nông dân rồi về báo với ông H, sau đó ông H đưa tiền cho ông để đặt cọc cho nông dân; ông H chuyển tiền qua tài khoản của ông P1 số: [...] Ngân hàng S nhiều lần, cụ thể mỗi lần số tiền bao nhiêu, vào tháng năm nào ông P1 không nhớ, sau đó ông P1 rút ra rồi đặt cọc cho người bán lúa, do giá lúa lên nhưng ông H không thoả thuận cho giá lên, do lúa sập ông H không mua, đến khoản tháng 8/2024 âm lịch ông P1 với ông H mới tính lại, ông P1 thừa nhận hiện tại còn thiếu ông H số tiền 179.835.000 đồng (ông có làm giấy biên nhận viết tay cho ông H, hiện ông còn giữ 01 bản, ông sẽ cung cấp cho Toà án sau), từ đó đến nay ông P1 không có trả cho ông H thêm số tiền nào. Nay ông P1 đồng ý trả cho ông H số tiền 179.835.000 đồng, ngoài ra ông không đồng ý trả cho ông H các khoản tiền khác theo yêu cầu của ông H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật; bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án chưa chấp hành đúng theo quy định của pháp luật; việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát chưa đúng quy định của pháp luật. Việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu còn trễ hạn. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông H. Buộc ông P1 có nghĩa vụ trả cho ông H số tiền đặt cọc 179.835.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của ông H đối với số tiền phạt cọc 179.835.000 đồng, tiền lãi suất 20.980.750 đồng và bồi thường thiệt số tiền 157.248.000 đồng. Áp dụng Điều 357 của Bộ luật dân sự 2015 để tính lãi suất trong giai đoạn thi hành án. Về án phí: nguyên đơn, bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về quan hệ pháp luật, khi ông H khởi kiện ông P1, Toà án đã thụ lý quan hệ “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”, tuy nhiên quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ có cơ sở xác định lại quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”. Ông P1 có địa chỉ cư trú tại ấp M, xã V, huyện P. Vì vậy, căn cứ vào Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu. Ông P là người đại diện theo uỷ quyền của ông H có đơn xin vắng mặt, ông P1 vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa không có lý do, nên việc xét xử vắng mặt ông P, ông H là phù hợp với quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Ông Vũ Phước H yêu cầu ông Lê Văn P1 trả, bồi thường tổng số tiền 537.898.750 đồng. Cụ thể, yêu cầu bồi thường tiền đặt cọc 359.670.000 đồng (179.835.000 đồng x 2); bồi thường tiền lãi suất 20.980.750 đồng (179.835.000 đồng x 20% x 07 tháng); bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tổn thất từ việc vi phạm hợp đồng 157.248.000 đồng.

[2.1.1] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Phước H yêu cầu ông Lê Văn P1 bồi thường tiền đặt cọc 359.670.000 đồng (179.835.000 đồng x 2):

[2.1.1.1] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở để xác định giữa ông H với ông P1 có xác lập hợp đồng đặt cọc mua bán lúa (bằng miệng), cụ thể ông P1 là người thỏa thuận mua bán lúa với nông dân, sau đó ông H chuyển tiền cho ông P1 để anh P1 đặt cọc cho nông dân. Tính đến ngày 15/5/2024, ông P1 còn nợ ông H số tiền đặt cọc 179.835.000 đồng, ông P1 thừa nhận còn nợ ông H số tiền nêu trên và đồng ý trả nợ cho ông H. Xét thấy, lời thừa nhận của ông P1 là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông H yêu cầu ông P1 có nghĩa vụ trả số tiền đặt cọc còn nợ 179.835.000 đồng.

[2.1.1.2] Xét yêu cầu đối với tiền phạt cọc, ông H yêu cầu ông P1 chịu tiền phạt cọc là 179.835.000 đồng thì thấy rằng: Theo quy định tại khoản 2 Điều 328 Bộ luật dân sự quy định: “2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Phía ông H xác định do ông P1 không giao lúa theo đúng thỏa thuận là vi phạm hợp đồng đã giao kết nên phải chịu phạt cọc. Phía ông P1 xác định bên ông H không chịu nhận lúa vì cho rằng lúa bị sập. Các đương sự chỉ trình bày bằng lời nói, không cung cấp chứng cứ để chứng minh ai là người vi phạm hợp đồng dẫn đến hợp đồng không thực hiện được. Mặt khác, khi giao kết hợp đồng các bên không thỏa thuận hậu quả của việc vi phạm hợp đồng là phải chịu phạt cọc nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu phạt cọc của ông H.

[2.1.2] Xét yêu cầu bồi thường tiền lãi suất 20.980.750 đồng (179.835.000 đồng x 20% x 07 tháng): Theo quy định tại khoản 2 Điều 238 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng đặt cọc, pháp luật chỉ quy định về phạt cọc, không quy định việc phải hoàn trả lãi suất trên số tiền cọc đã nhận trong trường hợp bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết hợp đồng. Mặt khác, các bên cũng không có thỏa thuận về việc tính lãi suất, do đó không thể tính lãi trên số tiền đặt cọc. Nghĩa vụ hoàn trả tiền đặt cọc là nghĩa vụ trả tiền, tuy nhiên, thời điểm bên nhận cọc có nghĩa vụ hoàn trả là thời điểm Tòa án ra quyết định bằng một bản án có hiệu lực pháp luật, khi đó bên hoàn trả có nghĩa vụ chịu lãi suất chậm trả trong giai đoạn thi hành án, không có nghĩa vụ trả lãi từ thời điểm hai bên giao kết hợp đồng đặt cọc và các phân tích tại mục [2.1.1.2]. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông H đòi ông P1 trả tiền lãi suất trên số tiền đặt cọc số tiền 20.980.750 đồng.

[2.1.3] Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tổn thất từ việc vi phạm hợp đồng với số tiền 157.248.000 đồng: Ông H xác định do ông P1 vi phạm thỏa thuận, không giao lúa đầy đủ cho ông H nên ông H không có lúa giao cho bên thứ ba là ông Trần Nguyên K, làm ông H phải bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng cho bên thứ ba (ông K) với số tiền 162.840.000 đồng. Xét thấy, việc thỏa thuận đặt cọc giữa ông H và ông P1 đều chỉ thỏa thuận miệng với nhau, các bên không thỏa thuận bên vi phạm hợp đồng phải bồi thường thiệt hại. Mặt khác, việc giao kết mua lúa, giao nhận lúa các bên cũng không lập hợp đồng, biên bản để xác định ông P1 có giao lúa đầy đủ cho bên ông H hay không, hợp đồng ông H ký giao lúa cho ông K có phải từ nguồn lúa mua của ông P1 giao hay không,... để làm cơ sở xác định ông P1 vi phạm hợp đồng là không có căn cứ. Từ đó, không có cơ sở để xác định ông P1 là người vi phạm hợp đồng. Từ đó, ông H yêu cầu ông P1 bồi thường thiệt hại số tiền 157.248.000 đồng là không có cơ sở để chấp nhận.

[3] Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông H. Buộc ông P1 có nghĩa vụ trả cho ông H số tiền đặt cọc 179.835.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của ông H đối với số tiền phạt cọc 179.835.000 đồng, tiền lãi suất 20.980.750 đồng và bồi thường thiệt số tiền 157.248.000 đồng.

[4] Về án phí xét xử dân sự sơ thẩm: Buộc ông H, ông P1 phải chịu theo quy định pháp luật.

[5] Do đó, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  • Áp dụng các Điều 26, 35, 39, 91, 92 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Áp dụng các Điều 280 và 328 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng áp phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của của ông Vũ Phước H đối với ông Lê Văn P1.

    Buộc ông P1 có nghĩa vụ trả cho ông H số tiền đặt cọc 179.835.000 đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Vũ Phước H đòi ông Lê Văn P1 bồi thường tiền phạt cọc số tiền 179.835.000 đồng, tiền lãi suất 20.980.750 đồng và bồi thường thiệt số tiền 157.248.000 đồng.
  3. Về án phí xét sử dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Lê Văn P1 phải nộp số tiền án phí có giá ngạch số tiền 8.991.750 đồng. Buộc ông Vũ Phước H phải chịu số tiền 17.903.187 đồng, ông H đã tạm ứng án phí số tiền 12.785.000 đồng tại biên lai số 0003077 ngày 20/12/2024 được chuyển thu án phí, buộc ông H tiếp tục nộp số tiền 5.118.187 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

    Bản án này được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án theo Điều 6, quyền và nghĩa vụ theo các Điều 7, 7a và 7b; tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

    Án xử sơ thẩm công khai vắng mặt các đương sự, báo cho các đương sự biết là có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết hợp lệ bản án theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Quách Thanh T

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/DS-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 46/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Hậu yêu cầu ông Pháp trả tiền
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger