Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VỊ THANH

TỈNH HẬU GIANG

Bản án số: 46/2025/DS-ST.

Ngày: 19/3/2025

V/v tranh chấp ranh giới quyền

sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Trực.

Bà Lý Thị Thu Thuý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lượng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 65/2023/TLST-DS ngày 18 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2025/QĐST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1961.

Địa chỉ: Ấp F, xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C – Là đại diện theo uỷ quyền. Theo văn bản uỷ quyền ngày 06/4/2023. (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp F, xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

- Bị đơn:

  1. Ông Huỳnh Thanh M, sinh năm 1983. (Vắng mặt).
  2. Địa chỉ: Ấp F, xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

  3. Bà Quách Kim N, sinh năm 1990. (Vắng mặt).
  4. Địa chỉ: Ấp F, xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

Địa chỉ: Quốc lộ F, khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện hợp pháp: Ông Lê Vũ K – Là đại diện theo uỷ quyền. Theo văn bản uỷ quyền ngày 10/12/2024. (Có mặt).

Địa chỉ: Quốc lộ F, khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:

Ông T có phần đất nền mộ của cha mẹ ông T để lại chiều ngang 9m, dài 24,5m thuộc thửa đất số 136, tờ bản đồ số 02 tọa lạc tại ấp F, xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang, giáp ranh phần đất nêu trên trước đây là đất của ông Quách Văn Ú. Phần ranh đất giữa hai bên có một con mương ranh, phần dưới mương là đất của ông Quách Văn Ú, phần trên bờ bên nền mộ là đất của cha mẹ ông T. Hiện nay cha, mẹ ông T và ông Quách Văn Ú đều đã chết.

Lúc ông Quách Văn Ú còn sống đã cùng ông T xác định vị trí ranh đất như nêu trên, hai bên có cặm mốc ranh cụ thể. Sau khi ông Quách Văn Ú chết thì vợ con ông Út T1 nhổ bỏ cột ranh di dời chiếm phần đất nền mộ của cha mẹ ông T chiều ngang 1m. Sau đó phần đất này được tặng cho lại cho con gái ông Ú là Quách Kim N và chồng là Huỳnh Thanh M.

Sau khi được cho đất vợ chồng bà N định cất nhà chiếm qua phần đất nền mộ của cha mẹ ông T nhưng sự việc đã được chính quyền địa phương giải quyết, vợ ông Ú có thừa nhận chiếm qua phần đất nền mộ của cha mẹ ông T 1m và thỏa thuận với ông T là chia mỗi bên 0,5m. Cán bộ hòa giải đã đến tại chỗ đất để đo và cặm ranh theo nội dung hòa giải. Nhưng con rể bà Ú là ông Huỳnh Thanh M không cho cặm ranh nên sự việc không giải quyết được.

Trên phần đất tranh chấp tại vị trí sát vách tường nhà của ông M và bà N, hiện tại có 04 ngôi mộ đất, trong đó có 03 ngôi mộ là con của ông T và 01 ngôi mộ chôn cất cháu ngoại của người hàng xóm, 04 ngôi mộ chôn liền nhau, hiện tại đã lạng bằng mặt.

Nay ông T yêu cầu Tòa án giải quyết như sau: Buộc bà Quách Kim N và chồng là ông Huỳnh Thanh M phải tháo dở phần nhà đã cất lấn chiếm và trả lại cho ông T phần đất nền mộ của cha mẹ ông T chiều ngang 1m, dài 24,5m, diện tích là 24,5m² để gia đình ông T sử dụng làm nền mộ.

Bị đơn ông Huỳnh Thanh M và bà Quách Kim N thống nhất trình bày:

Phần đất tranh chấp từ xưa đến nay là của cha bà N, có diện tích 2.044m², được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21/5/2005, do cha ruột bà N là ông Quách Văn Ú đứng tên chủ sử dụng. Cha và mẹ bà N đã tách thửa tặng cho bà N một nền nhà để ở có diện tích là 200,2m². Bà N, ông M đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 23/4/2015.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố V trình bày:

Thửa đất 136, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.870m², loại CLN, thể hiện trong sổ mục kê ruộng đất tên Quách Văn T2, tách thửa 1698(136) đăng ký tên Quách Văn Ú. Phần còn lại chưa thể hiện thông tin địa chính.

Tại phiên toà,

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C trình bày: Ông Nguyễn Văn T vẫn giữ yêu cầu khởi kiện và các ý kiến trình bày như trước đây. Trên thửa 136 có 07 ngôi mộ đá, tại phần tranh chấp có 04 ngôi mộ bằng đất vị trí sát vách tường của bị đơn bà N và ông M.

Yêu cầu bị đơn phải tháo dỡ một phần nhà và trả lại phần đất tranh chấp là 21,0m² được ký hiệu ô số (1) theo Theo Mảnh trích đo địa chính số 64/2024 ngày 09/9/2024 của Công ty TNHH MTV Đ – Chi nhánh H.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Hậu Giang có đại diện hợp pháp là ông Lê Vũ K trình bày: Thửa đất 136, tờ bản đồ số 02, tại ấp F, xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang là đất gốc do dân quản lý, không phải đất do Nhà nước quản lý. Hiện tại thửa đất này Nhà nước chưa cấp giấy chứng quyền sử dụng đất cho ai, nếu không có tranh chấp thì đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

Theo Mảnh trích đo địa chính số 64/2024 ngày 09/9/2024 thì phần đất tranh chấp là thuộc thửa đất 136.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh tại phiên tòa phát biểu: việc thu thập chứng cứ từ khi thụ lý vụ án của Thẩm phán, mở và điều khiển phiên toà của Hội đồng xét xử tại phiên toà là tuân thủ đúng pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ lúc thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án là không chấp hành theo pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Chi phí tố tụng khác và án phí dân sự sơ thẩm: Đương sự phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng

Theo đơn khởi kiện và các chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy giữa nguyên đơn ông Nguyễn Văn T với bị đơn ông Huỳnh Thanh M và bà Quách Kim N có tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất được quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Nguồn gốc phần đất tranh chấp.

Phần đất tranh chấp thuộc thửa 136 có nguồn gốc là của ông Nguyễn Văn N1 là cha ruột ông Nguyễn Văn T để lại cho ông T. Vào năm 1972 ông Quách Văn T2 (là ông nội của bị đơn bà N) có mua của bà Huỳnh Thị M1 (Là con dâu ông Nguyễn Văn N1) một phần đất, tuy nhiên bên trong phần đất này có một khu mộ thì không có bán. Phần đất khu mộ do ông Nguyễn Văm T3 quản lý từ xưa cho đến nay. Trên phần mộ này có 07 ngôi mộ đá cũ, trong đó có mộ cha, mẹ của ông T3 và 04 ngôi mộ đất (đã lạng).

Theo Mảnh trích đo địa chính số 64/2024 ngày 09/9/2024 của Công ty TNHH MTV Đ – Chi nhánh H thì thửa 136, tờ bản đồ số 02 tại ấp F, xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang có diện tích đo đạc thực tế là 193,9m². Trong đó phần không tranh chấp do ông Nguyễn Văn T quản lý có diện tích 172,9m², phần đất tranh chấp có diện tích 21m² được ký hiệu (1) tại mảnh trích đo địa chính. Phần đất tranh chấp hiện do bị đơn ông Huỳnh Thanh M và bà Quách Kim N quản lý. Trên phần đất tranh chấp có: Một phần căn nhà chính của ông M và bà N (ký hiệu A), diện tích 8,9m², một phần nhà tạm (nhà tole) ký hiệu là C, diện tích 6,4m² và phần còn lại là đất trống ký hiệu B, diện tích 5,7m². Ngoài ra, ông T cho rằng tại vị trí B này có 04 ngôi mộ đất, trong đó có 03 ngôi mộ là mộ của con ông T, các ngôi mộ chôn cất đã lâu nên bị lạng (bằng phẳng).

[3] Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

[3.1] Xét thấy, mặc dù thửa đất 136 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng thửa đất này có nguồn gốc là của gia đình ông Nguyễn Văn T quản lý sử dụng từ trước cho đến nay và trên thửa đất này có 07 ngôi mộ bằng bê tông và 04 ngôi mộ đất (mả lạng). Tại phiên toà đại diện Ủy ban dân thành phố V đã xác định thửa đất 136 không phải là đất công cộng do Nhà nước quản lý và đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho dân nếu không tranh chấp. Vì vậy có đủ cơ sở xác định ông Nguyễn Văn T đủ điều kiện là chủ sử dụng thửa đất 136.

[3.2] Bà Quách Kim N và ông Huỳnh Thanh M được ông Quách Văn Ú tặng cho thửa đất 1698(3621) và đã được cấp chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 29/4/2014. Phần đất của bà N và ông M có diện tích 200,2m² và tiếp giáp thửa đất số 136. Theo Mảnh trích đo địa chính số 64/2024 ngày 09/9/2024 thì căn nhà của bà N, ông M đã xây dựng lấn sang thửa đất 136 là 15,3m² (được ký hiệu A và C). Ngoài ra, bà N và ông M còn chiếm dụng một phần đất trống của thửa 136 là 5,7m² (ký hiệu là B), trên phần đất B này có 04 ngôi mộ đất đã lạng, trong đó có mộ của 03 người con của ông T. Xét thấy, việc ông M và bà N sử dụng lấn sang thửa đất 136 là không đúng với quy định của pháp luật về đất đai, đồng thời hành vi của bà N và ông M còn trái với đạo đức, văn hóa, phong tục tập quán tại địa phương, gây bức xúc trong dư luận xã hội tại địa phương. Vì vậy bà N, ông M phải có nghĩa vụ giao trả lại phần đất tranh chấp cho ông T quản lý sử dụng.

Tuy nhiên, đối với phần đất tranh chấp tại vị trí A, xét thấy trên phần đất này có một phần căn nhà của bà N, ông M và có kết cấu gắn liền với toàn thể căn nhà của bà N, ông M trên thửa đất 3621 nên không thể tháo dỡ, di dời. Ngoài ra, phần đất tại vị trí A có giá trị thấp hơn một phần căn nhà của bà N nên Tòa án giao phần đất ký hiệu A cho ông M, bà N sử dụng, ông M bà N có nghĩa vụ giao trả giá trị cho ông T số tiền là 2.732.300 đồng

Đối với phần đất tại vị trí B là đất trống, trên phần đất tại vị trí C một phần nhà tạm có thể di dời nên bà N, ông M phải di dời mái che, nhà tole trả lại đất cho ông T.

Đối với phần đất còn lại của thửa 136 ký hiệu (I), diện tích 172,9m² do ông Nguyễn Văn T quản lý, sủ dụng không có tranh chấp nên Toà án không xem xét.

[4] Từ những phân tích đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T.

[5] Chi phí tố tụng

Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, vẽ lược đồ và định giá tài sản tranh chấp là 9.150.000 đồng. Ông M và bà N phải chịu toàn toàn bộ để hoàn trả cho ông Nguyễn Văn T đã nộp tạm ứng trước đó.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 158, 165, 166 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 21 Điều 3, Điều 138 Luật đất đai 2024;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T.
  2. Ông Nguyễn Văn T được quyền sử dụng phần đất có diện tích 12,1m², thuộc thửa đất 136, tờ bản đồ số 02, tại ấp F, xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang, được ký hiệu B, C của Mảnh trích đo địa chính số 64/2024 ngày 09/9/2024 của Công ty TNHH MTV Đ – Chi nhánh H.

    Buộc ông Huỳnh Thanh M và bà Quách Kim N phải giao trả một phần thửa đất 136, ký hiệu B và C có diện tích 12,1m², tờ bản đồ số 02, tại ấp F, xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang nêu trên cho ông Nguyễn Văn T quản lý, sử dụng.

  3. Ông Huỳnh Thanh M và bà Quách Kim N được quyền sử dụng phần đất có diện tích 8,9 m² thuộc thửa đất 136, tờ bản đồ số 02, tại ấp F, xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang, được ký hiệu A của Mảnh trích đo địa chính số 64/2024 ngày 09/9/2024 của Công ty TNHH MTV Đ – Chi nhánh H.

    (Kèm theo bản án là Mảnh trích đo địa chính số 64/2024 ngày 09/9/2024 của Công ty TNHH MTV Đ – Chi nhánh H).

  4. Buộc ông Huỳnh Thanh M và bà Quách Kim N phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T với số tiền 2.732.300 đồng (Hai triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn ba trăm đồng).

    “Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015

  5. Chi phí thẩm định, vẽ lược đồ và thẩm định giá tài sản

    Buộc bị đơn ông Huỳnh Thanh M và bà Quách Kim N có nghĩa vụ liên đới nộp là 9.150.000 đồng (Chín triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) để hoàn trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn T đã nộp tạm ứng trước đó.

  6. Án phí dân sự sơ thẩm

    Buộc bị đơn ông Huỳnh Thanh M và bà Quách Kim N có nghĩa vụ liên đới chịu là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

  7. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 19/3/2025. Các đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Minh Trực     Lý Thị Thu Thuý

Huỳnh Thị Trinh

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Vị Thanh;
  • - Chi cục THADS TP Vị Thanh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Huỳnh Thị Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/DS-ST. ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 46/2025/DS-ST.
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CNYCKK
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger