|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH TỈNH TÂY NINH Bản án số: 46/2025/DS-ST Ngày: 14-4-2025. V/v Tranh chấp đòi tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Tấn Phát;
- Ông Nguyễn Minh Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Trung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Võ Lê Trúc Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 513/2024/TLST-DS ngày 22/10/2024 về việc “Tranh chấp Đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Văn V, sinh năm 1982 và bà Lê Thị Thúy H, sinh năm: 1992; Nơi đăng ký thường trú: khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; Địa chỉ cư trú hiện nay: Số C, Đường P, khu phố L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim Khánh L, sinh 2000, địa chỉ: G, đường C, khu phố A, phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 19/9/2024). Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Bị đơn: Ông Lê Linh T, sinh năm: 1996; địa chỉ: A, hẻm H, đường C, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ông Lê Linh T là em trai và là người làm công cho vợ chồng ông V, bà H. Vợ chồng ông V làm nghề kinh doanh hàng đông lạnh, vào khoảng tháng 02 năm 2022, vợ chồng ông V có mua 01 chiếc xe ô tô bán tải hiệu Mitsubishi Triton, biển số 70C-173.83 dùng để chở hàng và nhờ ông Lê Linh T đứng tên. Cụ thể:
Ngày 08/2/2022, ông V liên hệ với công ty cổ phần Ô-Tây Ninh để mua xe. Cùng ngày tiến hành ký hợp đồng mua bán số 0104/MTN-HĐMB/22, mua chiếc xe nói trên với giá là 904.950.001 đồng. Trong đó vợ chồng ông V đã thanh toán 250.000.000
1
đồng, ngân hàng P cho vay 688.000.000 đồng, thế chấp chính giấy chứng nhận đăng ký chiếc xe nói trên, thời hạn vay 05 năm. Ông V đã nhờ ông Lê Linh T đứng tên đối với chiếc xe này, đứng tên trong hợp đồng mua xe, hợp đồng vay ngân hàng PV P, hàng tháng ông V là người thanh toán tiền vay cho ngân hàng, đến nay đã thanh toán được khoảng 430.000.000 đồng, hiện còn dư nợ khoảng 474.950.000 đồng. Ông V không biết chính xác số tiền nợ gốc đã thanh toán và dư nợ gốc hiện tại vì số tiền mỗi tháng ông V góp bao gồm cả gốc và lãi, ông V đã liên hệ ngân hàng P1 - Chi nhánh T1 nhưng ngân hàng từ chối cung cấp thông tin vì hợp đồng vay do ông Lê Linh T đứng tên.
Sau khi ông T không còn làm công cho vợ chồng ông V, Vợ chồng ông V vẫn quản lý sử dụng chiếc xe này. Nhiều lần yêu cầu ông T chuyển quyền sở hữu chiếc xe này nhưng ông T không đồng ý vì cho rằng chiếc xe này ông đứng tên là của ông. Đồng thời sau khi liên hệ với ngân hàng PV P được biết phải thanh toán hết số tiền nợ còn lại, ông T ký xóa thế chấp xe mới có thể lấy giấy tờ và sang tên chủ sở hữu.
Vừa qua, vì vợ chồng ông V không còn đủ khả năng thanh toán tiền góp xe mỗi tháng dẫn đến nợ quá hạn nên Ngân hàng P1 không tiếp tục cấp giấy biên nhận thế chấp. Khi nhân viên của ông V đang điều khiển chiếc xe nói trên đi giao hàng, đã bị công an giao thông tại huyện T xử phạt lỗi không mang giấy đăng ký xe và tạm giữ xe.
Ngay ngày hôm sau, cơ quan công an yêu cầu nhân viên của ông V mang biên bản xử phạt, biên bản tạm giữ xe và biên bản niêm phong xe đến và ký tên để hoàn tất đóng phạt nhưng nhân viên của ông V không đến đồng thời công an huyện T đã liên hệ với ngân hàng P1, được biết sau khi lấy xe về ông T đã tự ý bán xe trả tiền cho ngân hàng thu hồi nợ.
Trước đây, theo đơn khởi kiện ngày 17/10/2024, ông V, bà H yêu cầu ông T thanh toán số tiền 660.000.000 đồng, trong đó gồm 230.000.000 đồng tiền trả trước và tiền góp xe hàng tháng đến thời điểm hiện tại đối với xe ô tô hiệu Mitsubishi Triton, biển số 70C-173.83, vợ chồng ông V bà H sẽ giao lại xe cho ông T tiếp tục quản lý sử dụng vì tại thời điểm khởi kiện ông V đang giữ xe.
Tuy nhiên, sau đó ông V được biết ông T tự ý bán xe trả nợ ngân hàng mà không được sự đồng ý của ông V, bà H nên tại đơn sửa đổi bổ sung, yêu cầu khởi kiện ngày 06/3/2025: Ông V, bà H khởi kiện yêu cầu ông T trả lại số tiền chênh lệch 240.000.000 đồng do ông T đã bán xe ô tô hiệu Mitsubishi Triton, biển số 70C-173.83 của vợ chồng ông bà V, H.
* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn – ông T trình bày:
Ông T là em ruột của bà Lê Thị Thúy H. Bà H kêu ông V đứng tên mua xe trả góp giùm, chiếc xe ô tô hiệu Mitsubishi Triton, biển số 70C-173.83 và hứa miệng khi nào trả góp xong sẽ cho ông T chiếc xe này luôn. Vợ chồng bà H đã thanh toán tiền trước là 230.000.000 đồng; còn hàng tháng vợ chồng bà H chuyển khoản tiền cần phải trả góp cho ngân hàng vào tài khoản của ông T để ngân hàng tự trừ tiền thanh toán trong tài
2
khoản của ông. Tổng số tiền đã chuyển trả cho ngân hàng là 430.000.000 đồng và ngân hàng cũng đã trừ số tiền này. Sau đó, đến khoảng tháng 4-5/2024, ông V, bà H ngưng không chuyển tiền vào tài khoản của ông T nữa nên khoảng nửa năm sau đó, ngân hàng đã thu hồi chiếc xe này để xử lý nợ. Xe do ông T đứng tên giùm nhưng ông V, bà H là người trực tiếp sử dụng xe từ khi mua cho đến khi ngân hàng thu hồi xe. Ông V, bà H quản lý sử dụng cho đến khi vi phạm pháp luật bị công an bắt và sau đó ngân hàng thu hồi bán xe. Ông T chưa từng sử dụng xe này và không hưởng được lợi ích gì từ việc khai thác, sử dụng xe. Đối với việc ngân hàng thu hối phát mãi xe là do ông V, bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán với ngân hàng; đồng thời ngân hàng cũng có yêu cầu vợ chồng ông V, bà H thanh toán hết nợ thì ngân hàng cũng sẽ cho lấy lại xe nhưng ông V, bà H cũng chưa thanh toán xong được nợ. Do đó, ông T buộc phải bán xe cho người khác để có tiền trả nợ cho ngân hàng. Số tiền ông bán xe ông không nhớ chính xác nhưng vừa đủ để trả nợ ngân hàng là khoảng hơn 460.000.000 đồng.
Do đó, ông T không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông V, bà H về việc yêu cầu ông phải trả lại số tiền 240.000.000 đồng.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên toà:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng, niêm yết tống đạt đúng quy định.
+ Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông V, bà H: Buộc ông T có nghĩa vụ thanh toán cho ông V, bà Hằng số tiền 144.702.320 đồng.
Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Ông V, bà H khởi kiện “Tranh chấp về Đòi tài sản” với ông T có địa chỉ cư trú tại khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh theo quy định tại Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Ông V, bà H vắng mặt, bà L có đơn xin giải quyết vắng mặt; Tòa án đã tiến hành đúng và đầy đủ thủ tục để đảm bảo cho việc xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
3
[2.1] Ông V, bà H, ông T đều thừa nhận: Ông V, bà H là người mua trả góp chiếc xe ô tô bán tải hiệu Mitsubishi Triton, biển số 70C-173.83. Căn cứ hợp đồng mua bán số 0104/MTN-HĐMB/22, giá mua chiếc xe nói trên với là 904.950.001 đồng. Trong đó vợ chồng ông V đã thanh toán 250.000.000 đồng, ngân hàng P cho vay 688.000.000 đồng, thế chấp chính giấy chứng nhận đăng ký chiếc xe nói trên, thời hạn vay 05 năm. Ông V, bà H đã nhờ ông Lê Linh T đứng tên đối với chiếc xe này, đứng tên trong hợp đồng mua xe, hợp đồng vay ngân hàng PV P, hàng tháng ông V, bà H là người thanh toán tiền vay cho ngân hàng bằng hình thức hàng tháng ông V, bà H chuyển khoản vào tài khoản thanh toán của ông T để ngân hàng trừ tiền. Do đó, có đủ cơ sở xác định ông V, bà H là người đã thanh toán số tiền mua xe ô tô bán tải hiệu Mitsubishi Triton, biển số 70C-173.83.
[2.2] Tại Biên bản lấy lời khai ông T ngày 13/10/2023 trong vụ án dân sự thụ lý số 289/2023/TLST-DS của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh thể hiện ông T thừa nhận xe ô tô bán tải hiệu Mitsubishi Triton, biển số 70C-173.83 là do ông V đang sử dụng và đang góp xe, ông chỉ đứng tên giùm ông V và sau khi góp xong chị H hữa sẽ cho ông. Ông T cho rằng chiếc xe ô tô nêu trên là bà H hứa cho ông chiếc xe này nhưng ông không có chứng cứ chứng minh việc tặng cho nên không có căn cứ chấp nhận. Do đó, có căn cứ xác định chiếc xe ô tô bán tải hiệu Mitsubishi Triton, biển số 70C-173.83 là của ông V, bà H, ông T chỉ là người đứng tên giùm.
[2.3] Ông T cho rằng xe bị thu hồi là do lỗi của ông V, bà H không trả nợ Ngân hàng để lấy xe ra, ông cũng không hưởng lợi gì từ chiếc xe, số tiền bán xe cũng chỉ vừa đủ trả nợ. Tại Văn bản số 63/PVB-CNTNH ngày 25/3/2025 của Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh T1 thể hiện: Ngân hàng không đống ý nội dung ông T trình bày việc Ngân hàng thu hồi phát mãi xe là do ông V, bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán với Ngân hàng; đồng thời Ngân hàng cũng có yêu cầu vợ chồng ông V, bà H thanh toán hết nợ thì Ngân hàng cũng sẽ cho lấy lại xe vì Ngân hàng thu nợ đối với ông T và khi ông T thanh toán hết nợ thì Ngân hàng chỉ giao tài sản cho chủ tài sản là ông T. Ngày 11/11/2024 ông T đã thanh toán khoản nợ (bao gồm gốc, lãi, phạt) tổng cộng là 460.595.359 đồng cho ông T, ông T đã nhận lại tài sản, phương tiện vẫn hoạt động bình thường. Về việc ông T bán xe cho ai, được bao nhiêu tiền Ngân hàng không biết. Quá trình giải quyết vụ án ông T không cung cấp chứng cứ chứng minh bán xe với giá 460.595.359 đồng và cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc ông đã có thông báo cho ông V, bà H và được sự đồng ý của ông V, bà H cho ông bán xe với giá tiền nêu trên. Do đó, ông T có lỗi trong việc tự định đoạt tài sản của ông V, bà H mà không được sự đồng ý của ông V, bà H.
Tại Văn bản số 56/PTCKH ngày 20/3/2025 của Phòng Tài chính - Kế hoạch thành phố T thể hiện: Giá trị của xe ô tô hiệu tải (Pick up cabin kép) 05 chỗ ngồi, số tự động Hiệu Mitsubishi Triton ATHLETE GLS KL1TJLHFPL, màu cam, số khung *MMBJLKL10NH047259, số máy: 4N15UHS2783, biển số 70C-173.83 tại thời điểm tháng 11/2024 là 750.000.000 đồng. Như vậy việc ông T tự ý bán xe, sau khi khấu trừ số tiền nợ đã thanh toán cho Ngân hàng, ông V, bà H đã bị thiệt hại số tiền là: 750.000.000 đồng - 460.595.359 đồng = 289.404.641 đồng.
4
Tuy nhiên, các đương sự đều thống nhất tuy xe do ông T đứng tên giùm nhưng ông V, bà H là người trực tiếp sử dụng, khai thác hưởng lợi từ việc quản lý, sử dụng xe từ khi mua cho đến khi bị công an giao thông tại huyện T xử phạt lỗi không mang giấy đăng ký xe và tạm giữ xe. Nguyên nhân dẫn đến việc Ngân hàng yêu cầu thu hồi xe phát mãi tài sản là do ông V, bà H đã không thực hiện đúng thỏa thuận chuyển khoản tiền hàng tháng đầy đủ vào tài khoản của ông T để Ngân hàng trả nợ. Do đó, ông V, bà H cũng có lỗi dẫn đến thiệt hại nêu trên.
Xét thấy, hai bên có lỗi ngang nhau nên Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc ông T có nghĩa vụ thanh toán cho ông V, bà Hằng số tiền là: 289.404.641 đồng : 2 = 144.702.320 đồng, làm tròn là 144.702.000 đồng
Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của ông V, bà H buộc ông T trả số tiền 240.000.000 đồng - 144.702.000 đồng = 95.298.000 đồng.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Do buộc ông T có trách nhiệm trả cho bà H, ông V số tiền 144.702.000 đồng nên phải chịu án phí theo qui định của pháp luật là 7.235.000 đồng.
Do không chấp nhận phần yêu cầu của bà H, ông V về việc yêu cầu ông T trả số tiền 95.298.000 đồng nên ông V, bà H phải chịu án phí theo qui định của pháp luật là 4.765.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 15.200.000 đồng theo Biên lai thu số 0003506 ngày 21/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, hoàn trả cho ông V, bà Hằng số tiền 10.435.000 đồng.
[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn V và bà Lê Thị Thúy H đối với ông Lê Linh T về việc “Tranh chấp đòi tài sản”.
Buộc ông Lê Linh T có nghĩa vụ trả cho ông Lê Văn V và bà Lê Thị Thúy H số tiền 144.702.000 đồng (Một trăm bốn mươi bốn triệu bảy trăm lẻ hai nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn V và bà Lê Thị Thúy H đối với ông Lê Linh T về việc yêu cầu trả số tiền 95.298.000 đồng (Chín mươi lăm triệu chín trăm hai mươi tám nghìn đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
5
Ông Lê Linh T phải chịu 7.235.000 đồng (Bảy triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Lê Văn V và bà Lê Thị Thúy H phải chịu án phí sơ thẩm dân sự là 4.765.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 15.200.000 đồng theo Biên lai thu số 0003506 ngày 21/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, hoàn trả cho ông V, bà Hằng số tiền 10.435.000 đồng (Mười triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
- Đương sự có quyền kháng cáo bản án của Tòa án cấp sơ thẩm trong thời hạn 15 kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Thị Ngọc Dung |
6
Bản án số 46/2025/DS-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: 46/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CHẤP NHẬN MỘT PHẦN YÊU CẦU KHỞI KIỆN CỦA ÔNG LÊ VĂN V ĐỐI VỚI ÔNG LÊ LINH T VỀ VIỆC "ĐÒI LẠI TÀI SẢN"
