|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2025/DS-ST Ngày 04 – 4 – 2025 V/v tranh chấp hụi |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Trúc Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Quốc Diện.
Ông Nguyễn Văn Mầm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Vui là Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước tham gia phiên tòa: Bà Trần Bích Trâm – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 446/2024/TLST–DS ngày 08 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp hụi, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1979 (có mặt).
- Bà Nguyễn Kiều Y, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Kiều Y: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1979 (Theo hợp đồng ủy quyền ngày 01/4/2025, có mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn:
- Ông Trần Văn T1, sinh năm 1971 (vắng mặt).
- Bà Quách Thị B, sinh năm 1981 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Quách Kim T2, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp P, xã A, huyện H, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Kiều Y (nguyên đơn) trình bày:
Vợ chồng ông có làm chủ hụi nhằm để anh chị em trong địa phương góp vốn làm ăn, phát triển kinh tế thì vợ chồng ông Trần Văn T1 và bà Quách Thị B có tham gia 02 chưng hụi, dây hụi mở vào ngày 10 tháng 9 năm 2018 âm lịch (Hiện hụi đã mãn), loại hụi 1.000.000 đồng, tổng 58 chưng, tháng khui hụi một lần, giấy hụi ghi tên ông T1. Vợ chồng ông T1, bà B đã hốt hết hai chưng.
Đối với chưng hụi đầu đã giao tiền hụi cho bà B, hiện bà B đã đóng hụi đầy đủ đến khi mãn không còn thiếu.
Đối với chưng hụi thứ hai (đang tranh chấp) khi giao tiền hụi thì bà B kêu mượn vợ chồng ông đưa tiền hụi cho bà Quách Kim T2 là em ruột bà B nên đã đưa tiền hụi cho bà T2 nhưng bà B là người ký nhận tiền hụi. Khi bỏ hụi thì bà T2 bỏ hốt hụi nói bỏ dùm ông T1. Sau khi hốt hụi xong, ông T1 có đóng hụi chết lại cho ông đầy đủ nhưng còn khoảng 15, 16 lần thì vợ chồng ông T1 nói phần này là hụi của bà T2. Do đó, bà T2 có chuyển khoản đóng cho ông được khoảng 7-8 lần thì không đóng nửa, đến nay hụi đã mãn nhưng ông T1 và bà B còn thiếu lại vợ chồng ông số tiền hụi chết là 7.000.000 đồng.
Nay vợ chồng ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Văn T1 và bà Quách Thị B trả số tiền nợ hụi là 7.000.000 đồng và không yêu cầu lãi suất.
Bị đơn bà Quách Thị B trình bày:
Ông T và bà Y có làm chủ hụi, chồng bà có nói chơi 01 chưng và em ruột bà là Quách Kim T2 chơi 01 chưng. Dây hụi mở vào ngày mùng 10 âm lịch (không nhớ cụ thể tháng năm mở hụi), loại hụi 1.000.000 đồng, tổng 58 chưng, tháng khui hụi một lần. Do ông T không giao giấy hụi cho bà nên không biết trong giấy hụi ghi tên ông T1 vô 02 chưng. Vợ chồng bà chỉ vô 01 chưng, đã hốt và ông T giao tiền hụi cho bà và bà đã đóng hụi chết đầy đủ đến khi mãn hụi.
Đối với 01 chưng hụi đang tranh chấp còn thiếu ông T tiền hụi là 7.000.000 đồng thì chưng hụi này do em bà là Quách Kim T2 chơi hụi ngay từ khi khui hụi và tự đóng hụi hàng tháng, chứ bà không đóng hụi dùm cho bà T2. Khi bỏ hụi hốt thì bà T2 bỏ hụi hốt, khi giao hụi thì ông T có kêu chung hụi cho bà nhưng bà không nhận nên ông T có kêu bà ký biên nhận nhận tiền hụi để ký làm tin chứ bà không biết số tiền hụi chung là bao nhiêu. Sau khi hốt hụi xong thì bà T2 đóng hụi chứ bà không có đóng chưng hụi này. Do hoàn cảnh khó khăn nên bà T2 còn thiếu lại tiền hụi của ông T là 7.000.000 đồng.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của ông T và bà Y là bà không đồng ý trả cho ông T, bà Y số tiền nợ hụi là 7.000.000 đồng, do tiền hụi này bà T2 thiếu chứ bà không có thiếu.
Bà Quách Kim T2 trình bày: Bà xác định có tham gia vô 01 chưng hụi do vợ chồng ông T làm chủ, chưng hụi đang tranh chấp hiện nay, dây hụi mở vào ngày 10 tháng 9 năm 2018 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng, tổng 58 chưng, tháng khui hụi một lần, nhưng giấy hụi ghi tên ông T1, không ghi tên bà, nhưng bà là người bỏ hụi hốt và ông T cũng chung hụi cho bà, sau khi hốt hụi bà cũng là người đóng hụi chết cho ông T, hiện nay bà còn nợ ông T và bà Y số tiền hụi chết là 7.000.000 đồng và đồng ý trả mỗi tháng là 500.000 đồng theo ngày đã đóng hụi hàng tháng.
Tại phiên tòa:
Ông T vẫn bảo lưu quan điểm, không bổ sung gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước phát biểu quan điểm về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo trình tự quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Kiều Y. Buộc ông Trần Văn T1 và bà Quách Thị B phải có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Kiều Y số tiền hụi là 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Trần Văn T1, bà Quách Thị B và bà Quách Kim T2 tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng đương sự vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T1, bà B và bà T2 theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:
Tranh chấp giữa nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Kiều Y với bị đơn ông Trần Văn T1 và bà Quách Thị B là “Tranh chấp hụi” được quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Trần Văn T1 và bà Quách Thị B có địa chỉ cư trú tại ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Kiều Y yêu cầu ông Trần Văn T1 và bà Quách Thị B phải có nghĩa vụ trả cho ông T và bà Y số tiền hụi là 7.000.000 đồng và không yêu cầu tiền lãi.
Xét thấy, ông T và bà Y có cung cấp hợp đồng về việc mở hụi có lãi suất, dây hụi mở vào ngày 10 tháng 9 năm 2018 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng, tổng 58 chưng, tháng khui hụi một lần, giấy hụi ghi tên Trần Văn T1, vô 02 chưng và biên nhận khi hốt 02 chưng hụi do bà B ký tên, được bà B thừa nhận. Tuy nhiên, bà B cho rằng chỉ vô 01 chưng hụi, còn 01 chưng là của bà T2 (em ruột bà B) vô, do ông T không đưa giấy hụi nên không biết giấy hụi ghi tên ông T1 vô 02 chưng, bà B thừa nhận có ký tên vào biên nhận nhận tiền hốt hụi nhưng tiền là do bà T2 trực tiếp nhận, bà B chỉ ký tên chứ không có nhận tiền, bà B không đồng ý trả số tiền hụi 7.000.000 đồng, vì số tiền hụi này là của bà T2. Đồng thời, bà T2 cũng thừa nhận hụi là do bà vô nhưng giấy hụi ghi tên ông T1, bà T2 hốt hụi, sau đó có đóng hụi chết hiện còn thiếu ông T và bà Y số tiền hụi 7.000.000 đồng và đồng ý trả. Nhận thấy, hợp đồng mở hụi ghi tên ông T1 vô 02 chưng, giấy hụi không có tên bà T2, khi hốt hụi người ký tên vào biên nhận nhận tiền hốt hụi là bà B ký tên chứ không phải bà T2 ký tên, ông T giao tiền cho bà T2 do bà B kêu đưa, nếu trường hợp bà B không chơi hụi thì khi ông T đưa giấy hụi để ký tên người nhận tiền hụi bà B đã không ký. Do bà B đã ký nhận tiền, giấy hụi thì ông T1 đứng tên nên ông T1 và bà B phải có nghĩa vụ đóng hụi chết cho ông T và bà Y. Do đó, lời trình bày của bà B là không có cơ sở chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy, có cơ sở chấp nhận theo yêu cầu khởi kiện của ông T và bà Y, buộc ông T1 và bà B phải có nghĩa vụ trả cho ông T và bà Y số tiền hụi là 7.000.000 đồng. Ngoài ra, ông T1 và bà B còn phải chịu thêm khoản tiền lãi đối với khoản tiền phải thanh toán nếu chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định pháp luật.
[4] Đối với việc bà T2 là người nhận tiền hụi nếu bà T2 không trả thì ông T1 và bà B có quyền khởi kiện bà T2 thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật, do trong vụ án này ông T1 và bà B không có yêu cầu gì đối với bà T2 nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí: Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ông T1 và bà B phải chịu 5% án phí dân sự có giá ngạch đối với số tiền phải trả cho ông T và bà Y, cụ thể: 7.000.000 đồng x 5% = 350.000 đồng.
Ông T và bà Y không phải chịu án phí, số tiền đã dự nộp được nhận lại.
[7] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 471; Điều 468 Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Kiều Y.
[1] Về nội dung:
Buộc ông Trần Văn T1 và bà Quách Thị B phải có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Kiều Y số tiền hụi 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
[2] Về án phí:
Ông Trần Văn T1 và bà Quách Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 350.000 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Kiều Y không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn T 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số 0013695 ngày 08/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Trúc Hằng |
Bản án số 46/2025/DS-ST ngày 04/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau về tranh chấp hụi
- Số bản án: 46/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Kiều Y
