Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/DS-PT

Ngày: 19/02/2025

“V/v tranh chấp QSDĐ "

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Hải

Các Thẩm phán: Bà Hồ Thị Tuyết Phương, bà Phan Thị Tuyết Mai.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lâm Thành Them - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19/02/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 616/2024/TLPT-DS ngày 30 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 184/2024/DS-ST ngày 27/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai có kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 29/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: bà Phạm Ngọc Á (Phạm Thị Á1), sinh năm 1946. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. (Có mặt).

    Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp: ông Lê Văn C, luật sư thuộc Đoàn luật sư thành phố C. (Có mặt).

  2. Bị đơn: ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1962. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. (Có mặt)

Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Phạm Thị Á1 (Phạm Ngọc Á)

NỘI DUNG VỤ KIỆN

Nguyên đơn bà Phạm Ngọc Á trình bày: bà có phần đất thuộc Thửa đất số 340, tờ bản đồ số 04, diện tích 8.000m², loại đất T+LNK, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Nguồn gốc đất này nguyên đơn được cha mẹ của nguyên đơn là ông Phạm Thế Đ và bà Nguyễn Thị P tặng cho vào năm 1980. Bà cấp giấy chứng nhận vào ngày 07/11/1992 (theo Giấy chứng nhận QSDĐ số vào sổ cấp giấy số: 02436 cấp ngày 07/11/1992), thời điểm nguyên đơn được cấp Giấy chứng nhận không có đo đạc thực tế phần đất. Hộ giáp ranh với bà là ông Huỳnh Văn N. Nguồn gốc đất của ông N là nhận chuyển nhượng từ cha của nguyên đơn là ông Phạm Thế Đ là Thửa đất số 341 có chiều ngang 12m, dài 51m. Khoảng năm 2015 khi Nhà nước làm lộ rộng 4m thì xảy ra tranh chấp, ông N đã lấn chiếm thêm phần diện tích đất phía sau nhà, phần đất nay thuộc quyền sử dụng đất của bà với diện tích khoảng 120m² tại Thửa đất trên.

Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Huỳnh Văn N có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn phần đất lấn chiếm có diện tích khoảng 120m² (theo Bản trích đo địa chính số 32/TTKTTNMT ngày 27/11/2019 của Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C) thuộc Thửa đất số 340, tờ bản đồ số 04, diện tích 8.000m² đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, TP ..

Bị đơn ông Huỳnh Văn N thì trình bày: ông hoàn toàn không thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của nguyên đơn, ông đang sử dụng Thửa đất 341, tờ bản đồ số 04, diện tích 500m² loại đất ONT, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Nguồn gốc đất này trước đây là của cha ông là ông Huỳnh Chí H nhận chuyển nhượng của ông Phạm Thế Đ (cha nguyên đơn), khi chuyển nhượng có lập giấy tay, đến năm 1991 thì cha ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng. Đến năm 2012 thì ông H tặng cho toàn bộ Thửa đất lại cho ông và ông được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất, số vào sổ cấp giấy số: CH00798 ngày 19/02/2013 (thời điểm cấp Giấy chứng nhận không đo đạc thực tế) và ông đang cất nhà kiên cố sinh sống. Phần đất ông đang sử dụng thực tế còn thiếu so với Giấy chứng nhận ông được cấp, ông xác định không yêu cầu phản tố đối với phần diện tích đất còn thiếu của mình, bị đơn yêu cầu giữ nguyên hiện trạng đất ông đang sử dụng.

Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.

Tại bản án số 184/2024/DSST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai đã tuyên xử:

Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Ngọc Á về việc yêu cầu bị đơn ông Huỳnh Văn N trả lại diện tích 120m², loại đất ở ONT + CLN đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ (kèm Bản trích đo chính số 32/TTKTTNMT ngày 27/11/2019 của Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên môi trường thành phố C).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí xem xét thẩm định, tiền án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai đã tuyên xử nguyên đơn bà Phạm Ngọc Á đã kháng cáo bản án trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm, luật sư Lê Văn C bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn cho rằng: Phần đất của bị đơn dư so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quyền sử đất của bị đơn được cấp là 500m² nhưng hiện tại bị đơn sử dụng 574m² chưa tính phần tranh chấp là 120m². Vì vậy, có cơ sở nói rằng bị đơn đã lấn chiếm đất tại vị trí A của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm.

Phía bị đơn cho rằng: Từ khi chuyển nhượng đất đến nay bị đơn vẫn sử dụng dụng ổn định, bị đơn sử dụng phần mặt tiền ngang 11,8m là ít hơn chuyển nhượng (chuyển nhượng ngang 12 x dài 51m ). Đáng lý ra bị đơn phải đòi thêm phần diện tích chuyển nhượng bị thiếu. Bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Quá trình giải quyết vụ án, bà Á thừa nhận cha của bà là ông Đ đã chuyển nhượng cho cha của ông N phần đất có diện tích chiều ngang 12m, chiều dài 51m. Lời thừa nhận của bà Á phù hợp với nội dung “TỜ NHƯỢNG ĐẤT CHỖ Ở” được ông H (cha của ông N) và ông Đ ký kết ngày 06/10/1986. Theo đó, ông Đ chuyển nhượng cho ông H diện tích đất ngang 12m, dài 51m, không thể hiện diện tích chuyển nhượng thuộc thửa đất nào. Tại biên bản hòa giải ngày 05/12/2018 của Ủy ban nhân dân xã T, bà Á và ông N thống nhất đo đạc lại theo tờ nhượng đất. Như vậy, diện tích đất các bên thống nhất chuyển nhượng là 612m².

Theo Bản trích đo địa chính số 32/TTKTTNMT ngày 27/11/2019 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C thể hiện, diện tích đất sử dụng thực tế của ông N là 606,1m² (bao gồm diện tích đất tranh chấp 120m²), thiếu 5,9m² so với diện tích nhận chuyển nhượng.

Mặc dù diện tích sử dụng thực tế của ông N tăng so với diện tích được cấp giấy chứng nhận, nhưng khi cấp giấy chứng nhận cho ông N, cơ quan chức năng không tiến hành đo đạc thực tế. Mặt khác, ông N sử dụng diện tích đất vẫn còn thiếu so với diện tích nhận chuyển nhượng theo sự thừa nhận của bà Á. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Á là phù hợp.

Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án số 184/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, không chấp nhận kháng cáo của bà Á.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” Tòa án nhân dân huyện Thới Lai thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được xem xét.
  2. Xét nội dung vụ kiện nhận thấy: Nguyên đơn khởi kiện cho rằng bị đơn lấn chiếm diện tích 120m² đất. Phía bị đơn không thừa nhận việc lấn đất của nguyên đơn.

Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Vào ngày 06/10/1986 cha của nguyên đơn là ông Phạm Thế Đ chuyển nhượng cho ông Huỳnh Chí H (cha của bị đơn) diện tích đất ngang 12m x dài 51m. Ông H mất thì giao lại cho ông N. Ông N được cấp giấy chứng quyền sử dụng đất là 500m² vào năm 2013. Như vậy, theo lời trình bày của nguyên đơn, và Tờ giấy nhượng đất chỗ ở thì ông N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn thiếu so với chuyển nhượng thực tế. Quá trình sử dụng đất thì bị đơn vẫn sử dụng giống như ban đấu lúc chuyển nhượng. Nguyên đơn không chứng minh được đất của nguyên đơn bị thiếu. Quá trình Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ, đo đạc diện tích đất thì nguyên đơn không xác định được ranh giới mốc giới. Diện tích sử dụng và giáp với tứ cận. Nguyên đơn thống nhất với Bản trích đo địa chính số 32 /TTKTTNMT ngày 27/11/2019 của Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên môi trường thành phố C, không có yêu cầu đo đạc lại, không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ theo quy định tại Điều 6, khoản 1 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

Phía bị đơn ông Huỳnh Văn Nkhông đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại bản trích đo đại chính số 32 /TTKTTNMT ngày 27/11/2019 của Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên môi trường thành phố C, tuy có thể hiện diện tích chênh lệch dư tại phần A là 120m² nhưng theo Công văn số 2618/UBND- TNMT ngày 26/7/2024 của Ủy ban nhân dân huyện T phúc đáp có nội dung đối với phần chênh lệch dư tại phần A theo Bản trích đo địa chính thì Ủy ban nhân dân huyện T không xác định được diện tích này là của Thửa đất nào (Thửa đất 340 của nguyên đơn hay Thửa 341 của bị đơn) nên mặc dù diện tích đất thực tế của bị đơn có chênh lệch nhiều hơn so với diện tích đất được cấp trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không có đủ căn cứ, cơ sở xác định bị đơn lấn chiếm đất của nguyên đơn. Bản án sơ thẩm tuyên là có căn cứ nên giữ nguyên.

  1. Về chi phí tố tụng: nguyên đơn bà Phạm Ngọc Á phải chịu số tiền 300.000đồng chi phí định giá tài sản tranh chấp, bà được nhận lại 700.000 đồng tiền tạm ứng chi phí tố tụng tại tòa án cấp sơ thẩm.
  2. Về án phí: do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Tuy nhiên nguyên đơn bà Phạm Ngọc Á được miễn án phí theo quy định, do là người cao tuổi.
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Á là người cao tuổi nên được miễn.
  4. Xét đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điều 6, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 74, Điều 91, Điều 271, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
  • - Điều 100, Điều 101, Điều 203 Luật đất đai năm 2013.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Ngọc Á. Giữ y bản án dân sự sơ thẩm.

Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Ngọc Á về việc yêu cầu bị đơn ông Huỳnh Văn N trả lại diện tích 120m², loại đất ở ONT + CLN đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ (kèm Bản trích đo chính số 32/TTKTTNMT ngày 27/11/2019 của Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên môi trường thành phố C).

Về chi phí tố tụng: nguyên đơn bà Phạm Ngọc Á phải chịu số tiền 300.000 đồng, bà được nhận lại 700.000 đồng tiền tạm ứng chi phí tố tụng.

Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: Nguyên đơn bà Phạm Ngọc Á được miễn án phí theo quy định do là người cao tuổi.

Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - TAND huyện Thới Lai;
  • - Chi cục THADS huyện Thới Lai;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hải

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Hồ Thị Tuyết Phương - Phan Thị Tuyết Mai

Nguyễn Văn Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/DS-PT ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 46/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger